Thứ tư 12/08/2026 20:53
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

12/10/2020 00:00
Tuần rồi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã gây chú ý toàn thế giới khi đưa ra khuôn khổ chính sách tiền tệ mới với việc ưu tiên tạo công ăn việc làm đối với tầng lớp có thu nhập thấp. Việt Nam, trong khi đó, lại nói nhiều hơn về câu chuyện tăng trưởng

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

Một số chuyên gia và tổ chức dự báo tăng trưởng dương không còn thực tế, trong khi một số khác cho rằng mục tiêu 2-3% hoàn toàn khả thi.

Giữa các luồng thông tin trên, Chính phủ tuyên bố “phấn đấu GDP tăng trưởng dương năm nay”. Không riêng Việt Nam, vì phần lớn các dự báo kinh tế ở các nước đều khác xa so với thực tế, nên đây cũng là chủ đề của một số bình luận trên báo chí quốc tế gần đây về việc so sánh giữa dự báo kinh tế và dự báo thời tiết.

Các dự báo kinh tế sai lầm do thiếu nền tảng lý thuyết tốt và thiếu cập nhật theo thời gian thực.

Các mô hình dự báo của các nhà kinh tế hầu như luôn dựa trên lý thuyết kinh tế truyền thống là chúng luôn trở lại cân bằng sau khi có các biến động. Trong khi trên thực tế, nền kinh tế lại hoạt động giống như bầu khí quyển, khi đó là một sự cân bằng lỏng lẻo trên bề mặt dựa trên một dòng biến động sâu hơn phía bên dưới.

Nhận định về điều này, Tờ Financial Times mới đây có bài phân tích cho thấy, các nhà kinh tế nên học hỏi từ các nhà dự báo thời tiết vì họ luôn dựa vào các dữ liệu theo thời gian thực. Chẳng hạn nếu mưa đang ở hướng Đông và nếu càng nhiều gió thổi mạnh từ hướng này, sẽ có mưa đến sớm.

Ngay khi đã cập nhật theo thời gian thực, các bản tin dự báo thời tiết vẫn luôn được xem là điều gì đó không chắc chắn. Dù vậy, trong nhiều thập niên qua các mô hình dự báo thời tiết ngày càng hoàn thiện và tốt hơn nhiều so với trước. Chúng tương phản so với các thông tin dự báo kinh tế của các tổ chức quốc tế và của chuyên gia.

Thế giới trải qua biết bao cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay các dự báo chính xác. Thậm chí nhiều doanh nghiệp ngày hôm trước còn xếp hạng tín dụng cao nhất, chỉ thời gian ngắn sau bị phá sản.

Cập nhật theo thời gian thực vẫn chưa đủ. Tờ Financial Times còn cho rằng, các nhà dự báo thời tiết còn có đức tính tốt là luôn chịu khó liên tục quan sát, bắt đầu từ những việc khó khăn nhất. Vào thế kỷ 18, các nhà dự báo thời tiết đã biết tận dụng dữ liệu thô thời tiết đến từ các bức điện tín ở các bưu cục trên toàn nước Mỹ và tập hợp chúng lại để vẽ lộ trình của các cơn mưa và bản đồ thời tiết toàn quốc.

Hơn 3 thế kỷ trôi qua, các nhà kinh tế vẫn còn thiếu nghiêm trọng bản đồ “thời tiết” kinh tế có tần suất và độ phân giải cao, bất chấp ngày nay các dữ liệu hoạt động kinh tế được thu thập qua vệ tinh và qua thanh toán điện tử một cách dễ dàng.

Các nhà dự báo thời tiết đã biết dựa trên các cơ sở lý thuyết tốt. Đầu thế kỷ 19, Bjerknes, nhà toán học người Na Uy, đã thiết lập nên nền tảng cơ bản của dự báo thời tiết.

Nếu biết mật độ, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc không khí theo 3 chiều và đưa vào phương trình toán của Bjerknes, sẽ có được một kết quả dự báo thời tiết đáng tin hơn. Những dạng phương trình như thế, kết hợp với sự phát triển của hệ thống máy tính và vệ tinh đã làm cho dự báo thời tiết ngày càng được cải thiện.

Trong khi đó, các mô hình dự báo kinh tế bị phê phán nặng nề do thiếu vắng nền tảng lý thuyết về các khối hệ thống tài chính, ngân hàng và hành vi con người vô cùng phức tạp. Đó là chưa kể trong thực tế, các hoạt động trao đổi thương mại trong một quốc gia và phần còn lại của thế giới giống như một mê cung mà các dự báo kinh tế vẫn chưa thể chạm đến.

Các nhà dự báo kinh tế không có thói quen liên tục kiểm tra và bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày.

Phát triển những nguyên lý của Bjerknes, năm 1961 nhà khí tượng học Edward Lorenz thiết lập một hệ phương trình toán học dự báo thời tiết chạy trên máy tính. Ông hoàn toàn bất ngờ khi cùng 1 dữ liệu lại cho 2 kết quả khác nhau hoàn toàn.

Lý do là có một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506. Dự báo kinh tế cũng không khác gì dự báo thời tiết khi đó là một hệ thống vô cùng phức tạp. Nên sức ì tư duy cho rằng một thay đổi nhỏ trong dữ liệu không ảnh hưởng gì đến kết quả có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng.

Để tránh những sai lầm, các nhà dự báo thời tiết có một thói quen mỗi dự báo buổi sáng là một giả thuyết cần được kiểm tra; mỗi buổi tối giả thuyết đó sẽ được xác nhận hoặc bác bỏ.

Kiểm tra và liên tục bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày là điều mà các nhà kinh tế cần có thói quen học tập các nhà vật lý, khí tượng học và khoa học tự nhiên. Nhiều nhà kinh tế giờ thường có mốt thời thượng là hay trưng bày các mô hình kinh tế bóng bẩy kết hợp với việc sử dụng máy học (machine learning) để đưa ra các kết quả dự báo như thể chúng là cánh cửa đi vào tương lai.

Tờ The Economist đã cảnh báo các nhà kinh tế hãy đừng quá đắc thắng và ngạo nghễ về điều này khi trích dẫn ý kiến của giáo sư Deaton (Nobel kinh tế và là chuyên gia khai thác dữ liệu) “nếu chúng ta không biết tại sao mọi thứ đang diễn ra và tại sao chúng ta thực hiện nó, chúng ta sẽ có nguy cơ tạo ra những mối quan hệ nhân quả không có ý nghĩa”.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 mới chớm, khảo sát của những nhà dự báo chuyên nghiệp (Survey of Professional Forecasters) cho kết quả khác xa thực tế. Có đến hơn 70% các nhà kinh tế hàng đầu cho rằng GDP không sụt giảm cho các tháng còn lại của năm.

Kết quả thực tế cho thấy GDP có mức sụt giảm quá lớn (8% trong quý IV). Thế giới hiện đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Chỉ một biến cố nhỏ, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc cách mạng, được biết đến như là hiện tượng được gọi là hiệu ứng cánh bướm (với ẩn dụ nổi tiếng chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas).

Và con virus corona bé nhỏ xuất hiện đã làm thay đổi vĩnh viễn nhiều hành vi của con người so với trước đây và cũng có thể đối với các mô hình dự báo kinh tế.

Câu chuyện dự báo khác xa thực tế của các chuyên gia kinh tế hàng đầu nêu trên cho thấy điều gì? Đó là do quán tính tư duy quá lớn. Do vài thập niên trước đó, các nền kinh tế phát triển đã trải qua thời kỳ “đại ổn định”.

Thế cho nên khi có một cú sốc trên thị trường nhà đất năm 2008, họ vẫn cứ nghĩ đó chỉ là tạm thời rồi trở lại điểm cân bằng. Các nhà kinh tế đã phạm sai lầm do họ thiếu chú ý đến chi tiết nhỏ về việc mất niềm tin của con người vào hệ thống tài chính phức hợp sau hàng thập niên con người có thói quen sống trong thời kỳ đại ổn định.

Giờ đây với sự xuất hiện của virus corona, các nhà dự báo kinh tế càng phải thận trọng hơn với các kết quả của mình. Đừng để cho phê phán của kinh tế gia John Kenneth Galbraith ám ảnh chúng ta rằng: “Chức năng duy nhất của dự báo kinh tế là giúp cho thuật chiêm tinh trở nên vĩ đại”.

Trở lại câu chuyện dự báo tăng trưởng Việt Nam từ nay đến cuối năm. Không biết dựa vào mô hình nào mà các chuyên gia có người dự báo tăng trưởng dương 2-3%, có người lại cho là âm. Cũng có thể do đợt Covid-19 thứ hai xuất hiện ở Đà Nẵng nên các dự báo trở nên bi quan.

Nhưng nếu thế, các chuyên gia đáng lý cũng phải cập nhật các ca nhiễm đang giảm dần để bác bỏ các giả thuyết trước đó. Trong đại dịch lần này con người càng thấm thía hơn câu nói “GDP của một quốc gia đo lường mọi thứ ngoại trừ những thứ làm cho cuộc sống trở nên đáng giá”. Tại sao chúng ta lại tin vào các dự báo tăng trưởng và cứ chạy theo nó mãi.

Ngọc Thơ

TAGS:

Tin bài khác
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành chuyển từ việc trả lời kiến nghị sang xử lý đến cùng, xác định rõ đầu mối, thời hạn và giải pháp để doanh nghiệp thực sự tháo gỡ được khó khăn.
ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề xuất công nhận kết quả thăm dò và cho phép khai thác từng phần đối với khu vực đã xác định đủ điều kiện, ĐBQH Thái Thị An Chung cho rằng giải pháp này có thể rút ngắn thời gian cung ứng vật liệu cho các dự án, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản.
Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm và kỹ năng lao động, hướng tới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349 km nhưng giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên khoảng 116 km. Trong bối cảnh ngân sách trung ương dự kiến bố trí 59.700 tỷ đồng, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải tính kỹ thứ tự đầu tư để vốn bỏ ra sớm tạo hiệu quả.
8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

Hơn 4.900 dự án tồn đọng đã hoàn thành tháo gỡ khó khăn, giúp giải phóng lượng lớn đất đai và nguồn vốn. Tuy nhiên, kết quả pháp lý mới là bước đầu, bởi không ít dự án vẫn chưa thực sự vận hành trở lại.
Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Từ lợi thế về chi phí, chất lượng dịch vụ và các chuyên khoa thế mạnh, Việt Nam đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, hướng tới đón khoảng 750.000 lượt khách quốc tế vào năm 2030 và tạo doanh thu trực tiếp từ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe khoảng 1 tỷ USD.
Bắc Ninh hút 2,73 tỷ USD FDI: Từ lợi thế dòng vốn đến bài toán giá trị giữ lại

Bắc Ninh hút 2,73 tỷ USD FDI: Từ lợi thế dòng vốn đến bài toán giá trị giữ lại

Hơn 2,73 tỷ USD vốn FDI, sản xuất công nghiệp tăng 19,6%, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 128,2 tỷ USD. Những con số sau 7 tháng cho thấy sức hút đầu tư của Bắc Ninh đang được chuyển hóa khá rõ vào hoạt động sản xuất. Khi dòng vốn tiếp tục tìm đến điện tử, bán dẫn và công nghệ cao, câu chuyện FDI của địa phương cũng đang bước sang một nấc mới về chất lượng và chiều sâu.
Ban hành 14 định mức mới mở đường cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Ban hành 14 định mức mới mở đường cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng ban hành 14 định mức dự toán riêng, tạo cơ sở tính chi phí cho tuyến đường sắt điện khí hóa đầu tiên Việt Nam, chuẩn bị triển khai dự án quy mô lớn.
Bộ Xây dựng tăng tốc làm sạch dữ liệu, mở đường cho chuyển đổi số toàn ngành

Bộ Xây dựng tăng tốc làm sạch dữ liệu, mở đường cho chuyển đổi số toàn ngành

Sau 20 ngày triển khai kế hoạch 100 ngày, Bộ Xây dựng đã hoàn thành một nhiệm vụ, đẩy nhanh làm sạch dữ liệu, kết nối VNeID và nâng cấp hệ thống số.
ĐBQH đề xuất mở rộng cơ chế để Trung tâm tài chính quốc tế dẫn vốn vào nền kinh tế

ĐBQH đề xuất mở rộng cơ chế để Trung tâm tài chính quốc tế dẫn vốn vào nền kinh tế

Các đại biểu Quốc hội cho rằng Trung tâm tài chính quốc tế cần được trao thêm công cụ để huy động, phân bổ và dẫn dắt dòng vốn quốc tế vào các dự án, doanh nghiệp trong nước, qua đó phát huy vai trò động lực tăng trưởng mới.
Kho bạc Nhà nước huy động hơn 201.000 tỷ đồng qua trái phiếu sau 7 tháng

Kho bạc Nhà nước huy động hơn 201.000 tỷ đồng qua trái phiếu sau 7 tháng

Lũy kế đến hết tháng 7/2026, Kho bạc Nhà nước đã huy động gần 201.165 tỷ đồng qua phát hành trái phiếu chính phủ, tương đương hơn 40% kế hoạch năm. Riêng tháng 7, lợi suất trái phiếu tại các kỳ hạn chủ yếu tăng nhẹ so với các phiên cuối tháng 5.
Bộ Xây dựng chốt quy mô cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng: Hơn 82km, vốn đầu tư hơn 29.000 tỷ đồng

Bộ Xây dựng chốt quy mô cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng: Hơn 82km, vốn đầu tư hơn 29.000 tỷ đồng

Một tuyến cao tốc mới đang dần định hình trên bản đồ hạ tầng phía Bắc khi Bộ Xây dựng đánh giá phương án đầu tư cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng với quy mô 4 làn xe là phù hợp với quy hoạch, tiêu chuẩn và nhu cầu vận tải.
Doanh nghiệp cần dòng vốn đủ dài để không lỡ cơ hội tăng trưởng

Doanh nghiệp cần dòng vốn đủ dài để không lỡ cơ hội tăng trưởng

Tín dụng toàn nền kinh tế đã đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, nhưng bài toán doanh nghiệp quan tâm lúc này không chỉ là có thêm vốn. Điều họ cần là nguồn vốn có chi phí hợp lý, thời hạn đủ dài và một cơ chế đánh giá phản ánh đúng năng lực kinh doanh thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Hải Phòng kết nối sức mạnh công thương phía Bắc, mở rộng không gian phát triển

Hải Phòng kết nối sức mạnh công thương phía Bắc, mở rộng không gian phát triển

Chuỗi sự kiện ngành Công Thương năm 2026 tại Hải Phòng không chỉ là diễn đàn đánh giá kết quả, tháo gỡ khó khăn mà còn mở ra không gian kết nối mới giữa các địa phương khu vực phía Bắc, từ sản xuất, thương mại đến thương mại điện tử và logistics.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa mở cơ hội vay vốn không cần tài sản thế chấp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa mở cơ hội vay vốn không cần tài sản thế chấp

Thay vì phụ thuộc vào bất động sản thế chấp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đề xuất được ngân hàng đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và dữ liệu được kiểm chứng.