Một thương vụ chuyển khẩu hàng hóa từ nay không chỉ được nhìn ở khoản tiền doanh nghiệp chuyển ra nước ngoài để mua hàng. Ngân hàng phải theo dõi cả dòng tiền nhận về từ hợp đồng bán hàng, còn doanh nghiệp phải cung cấp hồ sơ, chứng từ và thông tin đủ để đối chiếu toàn bộ giao dịch.
Đây là những yêu cầu mới tại Thông tư 43/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 5/9/2026 và đồng thời bãi bỏ Thông tư 02/2020/TT-NHNN.
Một thương vụ, hai giao dịch thanh toán
Theo Thông tư 43, hoạt động thanh toán và chuyển tiền trong kinh doanh chuyển khẩu được thực hiện trên cơ sở hai giao dịch riêng biệt, tương ứng với hợp đồng mua hàng hóa và hợp đồng bán hàng hóa mà thương nhân ký với thương nhân nước ngoài.
![]() |
| Hoạt động thanh toán trong kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa sẽ có những yêu cầu cụ thể hơn từ ngân hàng thực hiện giao dịch, nguồn ngoại tệ thanh toán đến hồ sơ, chứng từ doanh nghiệp phải cung cấp (Ảnh minh họa). |
Một giao dịch là chuyển tiền thanh toán cho hợp đồng mua hàng. Giao dịch còn lại là nhận tiền từ hợp đồng bán hàng.
Đáng chú ý, doanh nghiệp không bắt buộc phải nhận tiền từ hợp đồng bán hàng trước rồi mới được chuyển tiền thanh toán hợp đồng mua hàng. Việc chuyển tiền thanh toán có thể được thực hiện trước hoặc sau giao dịch nhận tiền.
Tuy nhiên, cả hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu đều phải thực hiện thông qua ngân hàng được phép.
Trong cùng một giao dịch chuyển khẩu, thương nhân chỉ được thanh toán và chuyển tiền cho cả hợp đồng mua và hợp đồng bán tại cùng một ngân hàng được phép.
Quy định này cũng đồng nghĩa doanh nghiệp không thể tùy ý chia một bộ hồ sơ giao dịch để thực hiện thanh toán tại nhiều ngân hàng.
| Điều 30 Luật Thương mại 2005 Định nghĩa chuyển khẩu hàng hóa như sau: “Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam”. |
Không được dùng một bộ hồ sơ cho nhiều ngân hàng
Thông tư 43 quy định thương nhân không được sử dụng bộ hồ sơ, chứng từ của một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa để mua ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền tại nhiều ngân hàng được phép.
Ngoại lệ được đặt ra khi ngân hàng đang thực hiện giao dịch không còn được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối. Khi đó, thương nhân được chuyển sang thực hiện thanh toán và chuyển tiền cho cùng giao dịch tại một ngân hàng được phép khác.
Về nguồn ngoại tệ để thanh toán hợp đồng mua hàng, thương nhân được sử dụng ngoại tệ trên tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của chính mình hoặc mua ngoại tệ từ ngân hàng được phép.
Như vậy, việc lựa chọn ngân hàng thực hiện giao dịch không còn đơn thuần là vấn đề dịch vụ. Doanh nghiệp cần tính đến khả năng ngân hàng kiểm tra, theo dõi và quản lý xuyên suốt cả hai chiều của dòng tiền.
Ngân hàng phải đối chiếu tiền ra, tiền về
![]() |
| Ngân hàng cũng phải thống kê, theo dõi lượng ngoại tệ chuyển ra và lượng ngoại tệ nhận về Việt Nam trong cùng một giao dịch. |
Thông tư 43 đặt thêm trách nhiệm cụ thể đối với ngân hàng được phép.
Ngân hàng phải xây dựng quy định nội bộ về việc kiểm tra đồng thời hợp đồng mua và hợp đồng bán hàng hóa trong cùng một giao dịch chuyển khẩu trước khi thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài.
Ngân hàng cũng phải thống kê, theo dõi lượng ngoại tệ chuyển ra và lượng ngoại tệ nhận về Việt Nam trong cùng một giao dịch. Khi bán ngoại tệ, thanh toán hoặc chuyển tiền cho khách hàng, ngân hàng phải xem xét, kiểm tra và lưu giữ giấy tờ, chứng từ phù hợp với giao dịch thực tế.
Cùng với đó là trách nhiệm tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền; phòng, chống tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Các giao dịch chuyển tiền liên quan đến chuyển khẩu phải được giám sát thường xuyên để bảo đảm phù hợp với giao dịch thực tế.
Ngân hàng cũng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng thực hiện đúng các quy định của Thông tư.
Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về hồ sơ
Ở chiều ngược lại, thương nhân phải xuất trình giấy tờ, chứng từ theo yêu cầu của ngân hàng được phép khi mua ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu.
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của hồ sơ, chứng từ đã cung cấp.
Một yêu cầu đáng chú ý khác là thương nhân phải cung cấp thông tin về nguồn tiền nhận về từ hợp đồng bán hàng hóa để ngân hàng có cơ sở thống kê, theo dõi tiền chuyển ra và tiền nhận về trong cùng một giao dịch.
Trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của những thông tin này cũng thuộc về doanh nghiệp.
Với thương nhân kinh doanh chuyển khẩu, thay đổi đáng lưu ý nhất không nằm ở việc phải nhận tiền bán hàng trước hay sau khi thanh toán tiền mua. Vấn đề quan trọng hơn là toàn bộ giao dịch phải có khả năng được ngân hàng kiểm tra và đối chiếu trên cùng một hồ sơ, cùng một dòng giao dịch.
Do đó, doanh nghiệp thực hiện chuyển khẩu hàng hóa từ ngày 5/9 cần rà soát lại quy trình thanh toán, lựa chọn ngân hàng, hồ sơ mua - bán và cách lưu giữ thông tin về dòng tiền. Việc chuẩn bị đầy đủ chứng từ ngay từ đầu sẽ có ý nghĩa trực tiếp khi ngân hàng thực hiện kiểm tra và cung ứng dịch vụ ngoại hối.