![]() |
Sau 18năm triển khai, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, giúp người lao động có nguồn thu nhập tạm thời khi mất việc, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn và kết nối việc làm.
Tuy nhiên, những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động đang đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện chính sách. Sự phát triển của kinh tế số, tự động hóa, xu hướng dịch chuyển lao động và những biến động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh khiến nguy cơ gián đoạn việc làm ngày càng khó dự báo.
Theo số liệu của cơ quan quản lý, đến cuối năm 2024, cả nước có hơn 16 triệu người tham gia BHTN. Đến cuối năm 2025, cả nước có gần 16,6 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm khoảng 35,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Diện bao phủ tăng qua các năm cho thấy chính sách ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người lao động có quan hệ lao động chính thức.
Dù vậy, một bộ phận người lao động vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận chế độ. Mức trợ cấp chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt, thủ tục giải quyết có thời điểm còn phức tạp, trong khi hoạt động đào tạo nghề và giới thiệu việc làm chưa thực sự phát huy hiệu quả ở một số địa phương.
Ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), từng nhận định chính sách BHTN mang lại lợi ích cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, việc điều chỉnh chế độ phải dựa trên khả năng cân đối quỹ, bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và tính bền vững trong dài hạn.
Một trong những vấn đề được quan tâm là mức trợ cấp thất nghiệp. Theo quy định, mức hưởng hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của sáu tháng đóng gần nhất trước khi thất nghiệp, đồng thời chịu giới hạn tối đa theo pháp luật.
Với người lao động có mức lương đóng BHTN bình quân 6 triệu đồng mỗi tháng, khoản trợ cấp tương ứng khoảng 3,6 triệu đồng. Đây là nguồn hỗ trợ cần thiết nhưng có thể chưa đủ trang trải sinh hoạt tại các đô thị lớn, nhất là với lao động phải thuê nhà hoặc nuôi con nhỏ.
Theo ông Tú, muốn tăng mức hưởng cần tính toán đồng thời mức đóng, khả năng thu và các nghĩa vụ chi trả của quỹ. Việc điều chỉnh thiếu cơ sở tài chính có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm quyền lợi cho người tham gia trong tương lai.
Thực tế giai đoạn dịch Covid-19 cũng cho thấy vai trò của Quỹ BHTN trong ứng phó khủng hoảng. Theo số liệu được ông Tú dẫn lại, quỹ đã hỗ trợ hơn 32.000 tỷ đồng cho người lao động và hơn 9.000 tỷ đồng cho người sử dụng lao động.
Đây là kinh nghiệm quan trọng để hoàn thiện cơ chế sử dụng quỹ theo hướng linh hoạt hơn, không chỉ chi trả khi người lao động mất việc mà còn hỗ trợ duy trì việc làm trong những tình huống đặc biệt.
Bước chuyển quan trọng trong cải cách thể chế là Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, cùng Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về BHTN.
Luật mở rộng đối tượng tham gia, trong đó có người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ một tháng, lao động không trọn thời gian đáp ứng điều kiện về tiền lương và một số chức danh quản lý doanh nghiệp có hưởng lương.
Quy định này có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nơi thường sử dụng lao động theo mùa vụ, hợp đồng ngắn hạn hoặc làm việc linh hoạt. Việc mở rộng diện tham gia giúp tăng khả năng bảo vệ người lao động, đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp rà soát hợp đồng, tiền lương và trách nhiệm đóng bảo hiểm.
Đáng chú ý, chính sách BHTN không chỉ tập trung vào trợ cấp sau khi mất việc. Luật tiếp tục quy định bốn chế độ gồm tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề; trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lao động để duy trì việc làm.
Trong trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai hoặc dịch bệnh nguy hiểm, Chính phủ có thể quy định giảm mức đóng, hỗ trợ bằng tiền hoặc hình thức khác căn cứ tình hình thực tế và kết dư quỹ.
Đây là cơ sở pháp lý để chuyển dần từ hỗ trợ thụ động sang phòng ngừa thất nghiệp, giúp doanh nghiệp có thêm công cụ giữ chân lao động khi sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn.
Cùng với hoàn thiện pháp luật, hiệu quả thực thi được xem là yếu tố quyết định chất lượng chính sách.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng |
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng, cho rằng chính sách an sinh cần được xem xét đồng thời ở hai khía cạnh: bảo đảm nguồn lực tài chính và tạo điều kiện để người dân tiếp cận quyền lợi.
Theo bà, cải cách thủ tục hành chính, nâng chất lượng dịch vụ công trực tuyến và tăng cường truyền thông là những giải pháp cần thiết. Tình trạng nghẽn mạng, giao diện khó sử dụng hoặc quy trình thiếu thống nhất có thể khiến người lao động mất thêm thời gian khi làm hồ sơ.
Với người vừa mất việc, chậm giải quyết trợ cấp đồng nghĩa với việc nguồn thu nhập hỗ trợ bị gián đoạn. Vì vậy, số hóa quy trình cần đi cùng đơn giản hóa giấy tờ, kết nối dữ liệu và nâng cao trách nhiệm của cơ quan giải quyết.
Ngược lại, việc kiểm tra, giám sát cũng phải được tăng cường nhằm ngăn chặn tình trạng trục lợi quỹ, khai báo không trung thực hoặc doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng BHTN.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, công khai quy trình và ứng dụng dữ liệu số còn giúp giảm chi phí tuân thủ, hạn chế sai sót trong kê khai, đóng bảo hiểm và xác nhận quá trình làm việc.
Về dài hạn, cải cách BHTN cần được đánh giá không chỉ bằng số hồ sơ giải quyết hay số tiền trợ cấp đã chi, mà còn bằng khả năng giúp người lao động sớm có việc làm mới.
Khi hoạt động tư vấn, đào tạo nghề và kết nối tuyển dụng thực sự gắn với nhu cầu doanh nghiệp, Quỹ BHTN sẽ phát huy tốt hơn vai trò điều tiết thị trường lao động.
Hoàn thiện thể chế vì thế không đơn thuần là sửa đổi quy định đóng và hưởng, mà còn là xây dựng hệ thống bảo vệ việc làm chủ động, minh bạch và đủ khả năng ứng phó với những biến động của nền kinh tế.