![]() |
| Bộ Y tế ban hành quy định mới về kê đơn thuốc cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền – hiện đại |
Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư quy định chi tiết việc kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Thông tư được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng về hành lang pháp lý, góp phần chuẩn hóa hoạt động chuyên môn, đồng thời thúc đẩy phát triển y học cổ truyền trong hệ thống y tế hiện đại.
Theo Thông tư, việc kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp với thuốc hóa dược được thực hiện trong điều trị nội trú, điều trị ban ngày và điều trị ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ sở y tế thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp với thuốc hóa dược.
Quy định mới tạo sự thống nhất trong thực hành lâm sàng, bảo đảm mọi hoạt động kê đơn đều nằm trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với đặc thù của y học cổ truyền và yêu cầu an toàn trong điều trị.
Bộ Y tế nhấn mạnh, việc kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp với thuốc hóa dược phải tuân thủ Điều 62 và Điều 63 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15. Đồng thời, hoạt động kê đơn phải căn cứ vào các tài liệu chuyên môn đã được phê duyệt, bao gồm: tờ hướng dẫn sử dụng thuốc do Bộ Y tế phê duyệt; hướng dẫn chẩn đoán và điều trị do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành; hoặc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp chưa có hướng dẫn thống nhất của Bộ.
Ngoài ra, việc kê đơn còn dựa trên Dược điển Việt Nam hiện hành, các dược điển nước ngoài được Bộ Y tế công nhận hoặc Dược thư quốc gia Việt Nam, qua đó bảo đảm tính khoa học, an toàn và hiệu quả điều trị.
Thông tư cho phép kê đơn trong trường hợp có sự trùng lặp một số vị thuốc cổ truyền, dược liệu trong thuốc thang hoặc trong thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hay hiện đại theo quy định. Người hành nghề được kê đơn thuốc thang riêng lẻ hoặc kê đơn kết hợp thuốc thang, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với liều lớn hơn quy định khi có sự trùng lặp các vị thuốc trong mỗi lần kê đơn.
Đáng chú ý, người hành nghề cũng được phép kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược hoặc kê đơn riêng lẻ từng hình thức trong mỗi lần kê đơn, phù hợp với tình trạng lâm sàng và phác đồ điều trị.
Đối với điều trị ngoại trú, việc kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược phải tuân thủ Thông tư số 26/2025/TT-BYT về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú. Trong khi đó, với điều trị nội trú và điều trị ban ngày, việc sử dụng thuốc thực hiện theo Thông tư số 23/2011/TT-BYT và các văn bản liên quan.
Thông tư cũng quy định rõ nội dung kê đơn thuốc và yêu cầu ghi chép đầy đủ trong hồ sơ bệnh án. Với thuốc thang trong điều trị ngoại trú, tùy tình trạng bệnh lý, mỗi lần kê đơn tối đa không quá 30 ngày hoặc theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cấp có thẩm quyền.
Riêng thuốc có chứa vị thuốc cổ truyền được chế biến từ dược liệu độc, mỗi lần kê đơn không quá 5 ngày; đối với bệnh cấp tính, số lượng thuốc kê đơn chỉ đủ sử dụng không quá 5 ngày. Đối với thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại, số ngày sử dụng tối đa không quá 90 ngày, căn cứ tình trạng lâm sàng và mức độ ổn định của người bệnh.
Trong điều trị nội trú và điều trị ban ngày, việc kê đơn thuốc thang được thực hiện tối thiểu hai lần trong 10 ngày. Ở các lần khám tiếp theo, nếu không thay đổi chỉ định điều trị, người hành nghề được phép kê lại đơn thuốc với ghi chú rõ ràng; trường hợp tiếp tục sử dụng ở lần kế tiếp, phải ghi đầy đủ bài thuốc theo quy định.
Thông tư cũng làm rõ quy trình kê đơn thuốc sau khi người bệnh kết thúc điều trị nội trú hoặc điều trị ban ngày. Nếu người bệnh cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 1 đến 7 ngày sau khi ra viện, bác sĩ phải ghi rõ chỉ định trong hồ sơ bệnh án nội trú và đồng thời kê đơn thuốc phù hợp. Trường hợp cần điều trị trên 7 ngày, người hành nghề quyết định kê đơn ngoại trú, lập hồ sơ điều trị ngoại trú hoặc chuyển người bệnh đến cơ sở phù hợp để tiếp tục điều trị.
Phát biểu về ý nghĩa của chính sách mới, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên khẳng định, y học cổ truyền không chỉ là một phương pháp chữa bệnh mà còn là linh hồn của nền y tế Việt Nam, gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, y học cổ truyền ngày càng được khơi dậy và kết hợp hài hòa với y học hiện đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong phòng và chữa bệnh.
Định hướng này cũng phù hợp với Kết luận số 86-KL/TW của Ban Bí thư về phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong giai đoạn mới. Kết luận đặt ra nhiều giải pháp trọng tâm như hoàn thiện chính sách, pháp luật; đổi mới quản lý; phát triển dịch vụ y học cổ truyền gắn với du lịch chăm sóc sức khỏe; đầu tư đào tạo lương y, lương dược; đẩy mạnh xã hội hóa và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.