![]() |
| Ảnh chụp từ Đề án vị trí Khu CNS tập trung tại TP. Hồ Chí Minh (Ảnh: https://daibieunhandan.vn). |
17 khu công nghệ số, một mạng lưới mới cho hệ sinh thái công nghệ
Việc TP. Hồ Chí Minh phê duyệt Đề án xây dựng mới các khu công nghệ số tập trung đang mở thêm một hướng phát triển cho hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố. Nếu được triển khai đồng bộ, các khu này sẽ không chỉ cung cấp mặt bằng cho doanh nghiệp công nghệ mà còn tạo không gian kết nối giữa nghiên cứu, phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực và thương mại hóa công nghệ.
Theo Quyết định số 5787/QĐ-UBND ngày 7/9/2026, UBND TP. Hồ Chí Minh phê duyệt Đề án xây dựng mới các khu công nghệ số tập trung trên địa bàn. Sở Khoa học và Công nghệ được giao làm cơ quan chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan tổ chức triển khai, đồng thời theo dõi, đôn đốc và tổng hợp những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện.
Danh mục được phân bố tại nhiều khu vực của thành phố, từ Củ Chi, Trung Mỹ Tây, Long Phước, Nhà Bè, Tân Thuận đến các địa bàn thuộc khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây. Quy mô cũng rất khác nhau, từ những khu khoảng 7,5-30 ha đến các khu 200-300 ha như Riverside, Cây Trường, VSIP 3 và Long Sơn.
Không gian công nghệ không còn chỉ là một địa chỉ
Điểm đáng chú ý của Đề án nằm ở cách tiếp cận mạng lưới. Thay vì chỉ dựa vào một khu công nghệ làm hạt nhân, TP. Hồ Chí Minh đang tính đến nhiều không gian với những chức năng và lợi thế khác nhau, gắn với quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Trong cấu trúc đó, Công viên phần mềm Quang Trung (QTSC) có thể được xem như một kinh nghiệm thực tiễn để thành phố tham chiếu. Sau 25 năm, QTSC đã hình thành cộng đồng hơn 120 doanh nghiệp công nghệ số, với hơn 650 sản phẩm, dịch vụ và giải pháp được cung cấp tại Việt Nam và hơn 30 quốc gia.
| QTSC sau 25 năm: Một mô hình đáng tham chiếu Công viên phần mềm Quang Trung được thành lập năm 2001, là mô hình khu công nghệ thông tin tập trung đầu tiên của TP. Hồ Chí Minh. Sau 25 năm, QTSC đã hình thành hệ sinh thái với hơn 120 doanh nghiệp công nghệ số, hơn 650 sản phẩm, dịch vụ và giải pháp, cung cấp cho thị trường trong nước và hơn 30 quốc gia. Các doanh nghiệp tại QTSC đạt khoảng 138.000 tỷ đồng doanh thu tích lũy, trong đó doanh thu xuất khẩu vượt 4,35 tỷ USD. Giai đoạn mới, QTSC hướng tới nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Đây là kinh nghiệm quan trọng để TP. Hồ Chí Minh xây dựng mạng lưới 17 khu công nghệ số mới. |
Tại lễ kỷ niệm 25 năm thành lập QTSC hồi tháng 3/2026, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được nhấn mạnh chặng đường của QTSC không chỉ gắn với tăng trưởng xuất khẩu phần mềm mà còn góp phần “định hình lại văn hóa sáng tạo của Thành phố”.
Nhìn từ kinh nghiệm này, việc hình thành thêm các khu công nghệ số có ý nghĩa lớn hơn việc mở rộng số lượng địa điểm. Bài toán đặt ra là làm thế nào để mỗi khu trở thành một mắt xích thực sự trong chuỗi nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, sản xuất và thương mại hóa công nghệ.
Từ gia công sang làm chủ công nghệ
Đây cũng là điểm khiến câu chuyện 17 khu công nghệ số gắn với một yêu cầu lớn hơn đối với doanh nghiệp công nghệ Việt Nam: phải tiến lên những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Tại một sự kiện về QTSC hồi tháng 3/2026, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương cho rằng gia công phần mềm từng là “bệ phóng” quan trọng của ngành công nghệ thông tin Việt Nam, nhưng không đủ để đưa đất nước vươn lên vị thế cường quốc công nghệ. Theo ông, doanh nghiệp cần từng bước làm chủ thiết kế, công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.
![]() |
| Khu công nghệ cao TPHCM (SHTP) đã tạo được sự lan tỏa, thúc đẩy phát triển công nghệ cao không chỉ cho khu vực phía nam mà còn cho cả nước. Đóng góp của SHTP ngày càng tăng (Ảnh: https://tphcm.chinhphu.vn). |
Đặt trong bối cảnh đó, mạng lưới khu công nghệ số mới của TP. Hồ Chí Minh có thể trở thành một phần của hạ tầng để thực hiện quá trình chuyển dịch này. Các khu không chỉ cần thu hút doanh nghiệp đến đặt cơ sở, mà phải tạo được điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm, tiếp cận phòng lab, kết nối trường đại học, tuyển dụng nhân lực chất lượng cao và đưa sản phẩm ra thị trường.
Định hướng này cũng phù hợp với bước phát triển mới của Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh. Khu vực mở rộng tại Long Phước được định hướng tập trung vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược, đồng thời sản xuất thử nghiệm sản phẩm từ kết quả nghiên cứu và phát triển.
Thước đo cuối không phải là 17 khu công nghệ số
Con số 17 tạo ấn tượng về quy mô, nhưng chưa phải thước đo cuối cùng của thành công.
Giá trị thực của Đề án sẽ được quyết định bởi số lượng doanh nghiệp công nghệ có năng lực mới được hình thành, số sản phẩm công nghệ được thương mại hóa, năng lực nghiên cứu được nâng lên và khả năng tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Điều này đòi hỏi các khu công nghệ số phải đi cùng hạ tầng số, điện, dữ liệu, giao thông, phòng thí nghiệm, cơ chế ưu đãi, nguồn nhân lực và đặc biệt là cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp với viện, trường. Chính Đề án cũng đặt vấn đề về hạ tầng kỹ thuật, không gian nghiên cứu - phát triển, đào tạo nhân lực và các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi để kích hoạt hệ sinh thái tại từng khu.
Nếu triển khai đúng hướng, 17 khu công nghệ số sẽ không đơn thuần tạo thêm những “địa chỉ công nghệ” trên bản đồ TP. Hồ Chí Minh. Quan trọng hơn, chúng có thể trở thành những điểm kết nối để doanh nghiệp từ nghiên cứu đi đến sản phẩm, từ làm thuê tiến tới làm chủ công nghệ và từ thị trường trong nước bước ra thị trường quốc tế.
Khi đó, giá trị của Đề án sẽ không nằm ở diện tích đất đã quy hoạch, mà ở năng lực công nghệ mới được tạo ra trên những diện tích ấy.