Nhà nước sẽ tiếp tục nắm giữ 100% vốn tại 10 trong số 15 doanh nghiệp thuộc danh mục giữ nguyên tỷ lệ sở hữu đến hết năm 2030. Ở nhóm còn lại, tỷ lệ vốn nhà nước dao động từ 51% đến 95,4%. Trong khi đó, 6 doanh nghiệp thuộc diện sắp xếp, cơ cấu lại vốn được xác định các mức sở hữu sau cơ cấu, với mốc hoàn thành vào năm 2030.
Các tỷ lệ này được xác định tại Quyết định số 2054/QĐ-TTg ngày 27/10/2026 do Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký, phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026–2030.
![]() |
| Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR) là một trong những doanh nghiệp tiếp tục duy trì 100% vốn nhà nước. |
15 doanh nghiệp giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước
Theo Phụ lục I của kế hoạch, 15 doanh nghiệp tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước đang nắm giữ đến hết năm 2030, gồm 14 doanh nghiệp thuộc danh mục của Bộ Tài chính và Agribank thuộc danh mục của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Có 10 doanh nghiệp tiếp tục duy trì 100% vốn nhà nước, gồm:
Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN);
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN);
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV);
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT);
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem);
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC);
Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC);
Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR);
Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1);
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Năm doanh nghiệp còn lại tiếp tục duy trì tỷ lệ vốn nhà nước dưới 100%, cụ thể:
Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor): 51%;
Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2): 51,43%;
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex): 75,87%;
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV): 95,4%;
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): 67,98%.
Việc giữ nguyên tỷ lệ sở hữu không có nghĩa tất cả doanh nghiệp trong danh mục đều do Nhà nước nắm toàn bộ vốn. Các mức sở hữu khác nhau phản ánh phương án quản lý vốn được xác định cho từng doanh nghiệp trong giai đoạn kế hoạch.
Sáu doanh nghiệp được xác định tỷ lệ sau cơ cấu
Khác với nhóm giữ nguyên tỷ lệ hiện tại, 6 doanh nghiệp tại Phụ lục II phải thực hiện các hình thức sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước trong giai đoạn 2026–2030. Danh sách gồm ba doanh nghiệp thuộc danh mục của Bộ Tài chính và ba ngân hàng thuộc danh mục của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại nhóm doanh nghiệp hàng không, hàng hải và cao su, tỷ lệ vốn nhà nước sau sắp xếp, cơ cấu lại được xác định như sau:
Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines – VNA): 86,42%, hoàn thành trong năm 2030.
Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC): 65%, hoàn thành trong năm 2030.
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG): 75%, hoàn thành trong năm 2030.
Đối với nhóm ngân hàng, kế hoạch đặt ra các mức sở hữu sau cơ cấu:
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV): từ 65% trở lên.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): từ 65% trở lên.
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank): 65%.
Cả ba ngân hàng đều có thời hạn hoàn thành trong năm 2030.
Cần phân biệt các tỷ lệ trên với tỷ lệ sở hữu hiện tại tại từng doanh nghiệp. Đây là mức được xác định sau sắp xếp, cơ cấu lại theo kế hoạch, không phải bảng thống kê toàn bộ tỷ lệ vốn nhà nước đang nắm giữ tại thời điểm ban hành quyết định.
Trách nhiệm thực hiện gắn với thời hạn cụ thể
Theo Quyết định 2054/QĐ-TTg, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao tổ chức thực hiện việc sắp xếp, cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp thuộc Phụ lục II. Hai cơ quan chủ động lựa chọn thời điểm và hình thức thực hiện, bảo đảm tuân thủ pháp luật và hoàn thành kế hoạch được phê duyệt.
Trường hợp không bảo đảm tỷ lệ theo khung hoặc không thể thực hiện trong giai đoạn 2026–2030, cơ quan liên quan phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.
Hằng năm, báo cáo tình hình thực hiện phải được gửi đến Bộ Tài chính trước ngày 31/1 để theo dõi, tổng hợp. Nếu cần điều chỉnh kế hoạch, Bộ Tài chính tổng hợp đề xuất của cơ quan đại diện chủ sở hữu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Như vậy, kế hoạch không chỉ xác định doanh nghiệp nào giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước, doanh nghiệp nào phải cơ cấu lại, mà còn đặt ra các mốc sở hữu và thời hạn triển khai cụ thể. Với nhóm phải cơ cấu lại, kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào phương án được lựa chọn và tiến độ thực hiện trong những năm tới.
