Những hoạt động nào phải có Giấy phép kinh doanh?
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 3/9/2026, quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Theo quy định, Giấy phép kinh doanh được cấp cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện những hoạt động thuộc diện phải cấp phép, gồm quyền phân phối bán lẻ hàng hóa; quyền nhập khẩu, phân phối bán buôn đối với một số nhóm hàng hóa; cùng một số hoạt động dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa.
![]() |
| Doanh nghiệp cần đối chiếu hoạt động đang thực hiện với phạm vi giấy phép và điều kiện pháp lý tương ứng, nhất là trong các lĩnh vực phân phối, logistics và thương mại điện tử - Ảnh minh họa. |
Các hoạt động dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh gồm cung cấp dịch vụ logistics trong phạm vi quy định; cho thuê hàng hóa, trừ các trường hợp được loại trừ; xúc tiến thương mại, trừ dịch vụ quảng cáo; dịch vụ trung gian thương mại; quản lý, vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại tích hợp; và dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.
Không phải mọi hoạt động mua bán hàng hóa của doanh nghiệp FDI đều mặc nhiên phải xin Giấy phép kinh doanh. Nghị định quy định cả các trường hợp không phải cấp phép, trong đó có những hoạt động được thực hiện sau khi đăng ký theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần xác định đúng hoạt động cụ thể, hàng hóa kinh doanh và trường hợp pháp lý của mình trước khi kết luận về nghĩa vụ cấp phép.
Điều kiện cấp phép gắn với cam kết thị trường và nghĩa vụ thuế
Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh được xác định theo từng trường hợp, có tính đến cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam trong các điều ước quốc tế và loại hoạt động kinh doanh đề nghị cấp phép.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, có cam kết mở cửa thị trường liên quan, điều kiện tiếp cận thị trường theo điều ước được áp dụng theo quy định pháp luật về đầu tư. Nhà đầu tư phải duy trì việc đáp ứng điều kiện này trong suốt quá trình hoạt động thuộc phạm vi nghị định.
Một điều kiện đáng lưu ý là tổ chức kinh tế đã thành lập tại Việt Nam từ đủ một năm trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ phải không còn nợ thuế quá hạn trong các trường hợp được nghị định quy định.
Với nhà đầu tư không thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế có cam kết mở cửa thị trường liên quan, ngoài điều kiện về nợ thuế quá hạn, việc cấp phép còn xem xét sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước cùng lĩnh vực trong thời gian một năm trước ngày nộp hồ sơ.
Đối với một số hàng hóa chưa được cam kết mở cửa thị trường, như dầu bôi trơn, mỡ bôi trơn có nguồn gốc từ dầu mỏ, gạo, đường, vật phẩm đã ghi hình, sách, báo và tạp chí, nghị định quy định các điều kiện riêng. Chẳng hạn, việc cấp phép bán lẻ một số nhóm hàng hóa này gắn với điều kiện về cơ sở bán lẻ theo quy định.
Như vậy, doanh nghiệp không nên chỉ căn cứ vào quốc tịch của nhà đầu tư hoặc tên ngành nghề đăng ký để xác định khả năng được cấp phép. Việc rà soát cần đặt trong mối liên hệ giữa loại hàng hóa, hoạt động thực tế, cam kết thị trường, điều kiện chuyên ngành và tình trạng thực hiện nghĩa vụ thuế.
UBND cấp tỉnh thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép
Theo nghị định, UBND cấp tỉnh nơi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt trụ sở chính thực hiện việc cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi Giấy phép kinh doanh.
Đối với một số trường hợp thuộc diện xem xét về an ninh quốc gia, cơ quan cấp phép lấy ý kiến của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng theo quy định. Nội dung này áp dụng với các trường hợp cụ thể được nghị định xác định, không phải thủ tục bắt buộc đối với mọi hồ sơ.
Nghị định cũng quy định Giấy phép lập cơ sở bán lẻ là loại giấy phép riêng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền đề nghị cấp giấy phép này sau khi có Giấy phép kinh doanh và tài liệu về địa điểm lập cơ sở bán lẻ. Trong trường hợp cơ sở bán lẻ đầu tiên đặt tại cùng tỉnh, thành phố với trụ sở chính, doanh nghiệp có thể đề nghị cấp đồng thời hai giấy phép theo trình tự quy định.
Vì vậy, doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng hệ thống bán lẻ cần phân biệt rõ giấy phép cho hoạt động kinh doanh với giấy phép lập cơ sở bán lẻ, đồng thời xác định đúng cơ quan có thẩm quyền theo địa điểm tương ứng.
Doanh nghiệp cần làm gì trước ngày 18/10?
Nghị định 342/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 18/10/2026. Để chủ động tuân thủ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên rà soát theo từng nhóm việc.
Thứ nhất, đối chiếu các hoạt động đang triển khai hoặc dự kiến triển khai với danh mục hoạt động phải cấp Giấy phép kinh doanh và các trường hợp không phải cấp phép.
Thứ hai, kiểm tra phạm vi giấy phép hiện có, loại hàng hóa kinh doanh, quyền nhập khẩu, phân phối bán buôn, bán lẻ và các dịch vụ liên quan. Với doanh nghiệp hoạt động trong thương mại điện tử, logistics hoặc có kế hoạch mở thêm cơ sở bán lẻ, cần đặc biệt lưu ý phạm vi điều chỉnh tương ứng.
Thứ ba, rà soát điều kiện tiếp cận thị trường, quy định chuyên ngành và tình trạng nợ thuế quá hạn nếu thuộc trường hợp phải đáp ứng điều kiện này.
Thứ tư, xác định yêu cầu về Giấy phép kinh doanh và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ, nếu có; chuẩn bị hồ sơ theo quy định và làm việc với cơ quan cấp phép khi cần thiết.
Việc nghị định có hiệu lực không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp FDI đều phải xin cấp mới hoặc cấp lại giấy phép ngay trước ngày 18/10. Nghĩa vụ cụ thể phụ thuộc vào hoạt động thực tế, tình trạng pháp lý và các quy định tương ứng, bao gồm cả quy định chuyển tiếp nếu thuộc trường hợp áp dụng. Doanh nghiệp nên đối chiếu toàn văn nghị định trước khi quyết định thủ tục cần thực hiện.
| Doanh nghiệp FDI cần lưu ý gì từ ngày 18/10/2026?
|
