Hơn nửa triệu người nộp thuế đã ngừng hoạt động hoặc không còn hiện diện tại địa chỉ đăng ký từ năm 2015 trở về trước đang nằm trong nhóm có thể được xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo đề xuất mới của Bộ Tài chính. Đằng sau con số này là bài toán xử lý hồ sơ tồn đọng kéo dài, khi doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn có thể phải hoàn thiện hàng chục tờ khai thuế để khép lại thủ tục pháp lý.
Điểm đáng chú ý của đề xuất không chỉ là xử lý số lượng lớn mã số thuế, mà còn là giảm chi phí tuân thủ cho những đơn vị đã ngừng kinh doanh nhiều năm, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan quản lý cập nhật dữ liệu người nộp thuế sát với thực tế hơn.
Hàng trăm nghìn hồ sơ chưa khép lại sau nhiều năm
Theo số liệu Bộ Tài chính công bố, tính đến ngày 23/10/2026, cả nước có 2.518.440 người nộp thuế thuộc trạng thái 03 và 06. Trong đó, 643.383 trường hợp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; 1.875.057 trường hợp được Cơ quan Thuế xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
![]() |
| Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ đủ 10 năm, không có nợ thuế và không thuộc trường hợp đang được thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử. |
Đáng chú ý, 529.041 trường hợp đã ngừng hoạt động hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ năm 2015 trở về trước, chiếm khoảng 21% tổng số người nộp thuế thuộc hai trạng thái nói trên.
Thực trạng này đặt ra một vấn đề trong quản lý thuế: một doanh nghiệp có thể đã dừng hoạt động trên thực tế, nhưng hồ sơ thuế chưa được khép lại. Khi muốn hoàn thành thủ tục, doanh nghiệp vẫn có thể phải xử lý nghĩa vụ kê khai của nhiều năm trước, kể cả những kỳ không phát sinh hoạt động kinh doanh.
Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với các trường hợp thuộc hai trạng thái này nếu đã kéo dài từ đủ 10 năm tính đến ngày Nghị quyết có hiệu lực, không có nợ thuế và không thuộc diện đang được thanh tra, điều tra, truy tố hoặc xét xử.
Chi phí xử lý hồ sơ có thể lên tới 55 triệu đồng
Một trong những lý do được Bộ Tài chính nêu ra là chi phí để hoàn thiện thủ tục có thể trở thành rào cản đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động từ lâu.
Theo tình huống giả định của cơ quan này, một doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký trong 10 năm, nếu thuộc diện khai thuế giá trị gia tăng theo quý, có thể phải bổ sung khoảng 40 hồ sơ khai thuế GTGT và 10 hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Tùy trường hợp, doanh nghiệp còn có thể phải hoàn thiện hồ sơ thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế, phí liên quan.
Khối lượng thủ tục này không đồng nghĩa doanh nghiệp chắc chắn còn phát sinh số thuế phải nộp tương ứng. Tuy nhiên, việc lập lại hồ sơ cho nhiều kỳ tính thuế, kể cả những kỳ không phát sinh doanh thu, vẫn có thể tiêu tốn thời gian và chi phí nhân sự hoặc dịch vụ kế toán.
Bộ Tài chính dẫn ví dụ tổng số tiền doanh nghiệp có thể phải thực hiện với ngân sách Nhà nước lên tới 55 triệu đồng, gồm 23 triệu đồng tiền xử phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp, 20 triệu đồng lệ phí môn bài và 12 triệu đồng tiền chậm nộp lệ phí môn bài.
Đây là con số minh họa theo giả định của cơ quan soạn thảo, không phải mức nghĩa vụ áp dụng đồng loạt cho mọi doanh nghiệp. Số tiền thực tế còn phụ thuộc tình trạng hồ sơ, nghĩa vụ thuế và các quy định có liên quan của từng trường hợp.
Dù vậy, ví dụ điển hỉnh này cho thấy một nghịch lý về chi phí tuân thủ: ngay cả khi không còn hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vẫn có thể phải dành nguồn lực đáng kể để hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế. Nếu chi phí khắc phục hồ sơ quá lớn so với khả năng tài chính còn lại, động lực tự nguyện quay lại hoàn thiện thủ tục có thể suy giảm.
Không chỉ doanh nghiệp chịu áp lực, Cơ quan Thuế cũng phải tiếp nhận, kiểm tra và xử lý lượng lớn hồ sơ bổ sung. Khi nhiều tờ khai không phát sinh nghĩa vụ thuế vẫn cần được rà soát, nguồn lực hành chính có thể bị phân tán khỏi các nhiệm vụ quản lý có trọng tâm hơn.
Công khai 30 ngày trước khi chấm dứt mã số thuế
Để xử lý các hồ sơ tồn đọng, dự thảo đề xuất quy trình công khai thông tin người nộp thuế dự kiến chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên trang thông tin điện tử của cơ quan thuế trong 30 ngày.
Trong thời gian này, người nộp thuế có thể gửi văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế; các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân liên quan cũng có thể gửi ý kiến phản đối bằng văn bản. Nếu hết thời hạn công khai mà không có đề nghị khôi phục và không có ý kiến phản đối, Cơ quan Thuế mới thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên hệ thống quản lý.
Sau đó, thông tin tiếp tục được công khai và chuyển đến cơ quan đăng ký kinh doanh cùng cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định pháp luật liên quan.
Cơ chế này cho thấy việc xử lý hồ sơ tồn đọng không đơn thuần là xóa dữ liệu cũ. Thời hạn công khai và quyền phản hồi là những bước quan trọng để hạn chế trường hợp chấm dứt mã số thuế khi còn vấn đề chưa được giải quyết.
Theo Bộ Tài chính, trong 10 tháng đầu năm 2026, Cơ quan Thuế đã giải quyết chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với 777.835 trường hợp, gồm doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
Nếu được thông qua, chính sách đặc thù có thể bổ sung công cụ xử lý nhóm hồ sơ đã tồn tại quá lâu. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào việc xác định đúng đối tượng, công khai thông tin đầy đủ và bảo đảm các trường hợp có nghĩa vụ chưa hoàn thành hoặc đang trong quá trình xử lý theo pháp luật không bị bỏ sót.
Với doanh nghiệp, tháo gỡ thủ tục kéo dài có thể giúp giảm chi phí hành chính không cần thiết. Với cơ quan quản lý, mục tiêu không chỉ là giảm số lượng mã số thuế tồn đọng, mà còn phải bảo đảm dữ liệu phản ánh đúng tình trạng hoạt động và nghĩa vụ của người nộp thuế.
