Thứ bảy 17/10/2026 15:23
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

12/10/2020 00:00
Tuần rồi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã gây chú ý toàn thế giới khi đưa ra khuôn khổ chính sách tiền tệ mới với việc ưu tiên tạo công ăn việc làm đối với tầng lớp có thu nhập thấp. Việt Nam, trong khi đó, lại nói nhiều hơn về câu chuyện tăng trưởng

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

Một số chuyên gia và tổ chức dự báo tăng trưởng dương không còn thực tế, trong khi một số khác cho rằng mục tiêu 2-3% hoàn toàn khả thi.

Giữa các luồng thông tin trên, Chính phủ tuyên bố “phấn đấu GDP tăng trưởng dương năm nay”. Không riêng Việt Nam, vì phần lớn các dự báo kinh tế ở các nước đều khác xa so với thực tế, nên đây cũng là chủ đề của một số bình luận trên báo chí quốc tế gần đây về việc so sánh giữa dự báo kinh tế và dự báo thời tiết.

Các dự báo kinh tế sai lầm do thiếu nền tảng lý thuyết tốt và thiếu cập nhật theo thời gian thực.

Các mô hình dự báo của các nhà kinh tế hầu như luôn dựa trên lý thuyết kinh tế truyền thống là chúng luôn trở lại cân bằng sau khi có các biến động. Trong khi trên thực tế, nền kinh tế lại hoạt động giống như bầu khí quyển, khi đó là một sự cân bằng lỏng lẻo trên bề mặt dựa trên một dòng biến động sâu hơn phía bên dưới.

Nhận định về điều này, Tờ Financial Times mới đây có bài phân tích cho thấy, các nhà kinh tế nên học hỏi từ các nhà dự báo thời tiết vì họ luôn dựa vào các dữ liệu theo thời gian thực. Chẳng hạn nếu mưa đang ở hướng Đông và nếu càng nhiều gió thổi mạnh từ hướng này, sẽ có mưa đến sớm.

Ngay khi đã cập nhật theo thời gian thực, các bản tin dự báo thời tiết vẫn luôn được xem là điều gì đó không chắc chắn. Dù vậy, trong nhiều thập niên qua các mô hình dự báo thời tiết ngày càng hoàn thiện và tốt hơn nhiều so với trước. Chúng tương phản so với các thông tin dự báo kinh tế của các tổ chức quốc tế và của chuyên gia.

Thế giới trải qua biết bao cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay các dự báo chính xác. Thậm chí nhiều doanh nghiệp ngày hôm trước còn xếp hạng tín dụng cao nhất, chỉ thời gian ngắn sau bị phá sản.

Cập nhật theo thời gian thực vẫn chưa đủ. Tờ Financial Times còn cho rằng, các nhà dự báo thời tiết còn có đức tính tốt là luôn chịu khó liên tục quan sát, bắt đầu từ những việc khó khăn nhất. Vào thế kỷ 18, các nhà dự báo thời tiết đã biết tận dụng dữ liệu thô thời tiết đến từ các bức điện tín ở các bưu cục trên toàn nước Mỹ và tập hợp chúng lại để vẽ lộ trình của các cơn mưa và bản đồ thời tiết toàn quốc.

Hơn 3 thế kỷ trôi qua, các nhà kinh tế vẫn còn thiếu nghiêm trọng bản đồ “thời tiết” kinh tế có tần suất và độ phân giải cao, bất chấp ngày nay các dữ liệu hoạt động kinh tế được thu thập qua vệ tinh và qua thanh toán điện tử một cách dễ dàng.

Các nhà dự báo thời tiết đã biết dựa trên các cơ sở lý thuyết tốt. Đầu thế kỷ 19, Bjerknes, nhà toán học người Na Uy, đã thiết lập nên nền tảng cơ bản của dự báo thời tiết.

Nếu biết mật độ, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc không khí theo 3 chiều và đưa vào phương trình toán của Bjerknes, sẽ có được một kết quả dự báo thời tiết đáng tin hơn. Những dạng phương trình như thế, kết hợp với sự phát triển của hệ thống máy tính và vệ tinh đã làm cho dự báo thời tiết ngày càng được cải thiện.

Trong khi đó, các mô hình dự báo kinh tế bị phê phán nặng nề do thiếu vắng nền tảng lý thuyết về các khối hệ thống tài chính, ngân hàng và hành vi con người vô cùng phức tạp. Đó là chưa kể trong thực tế, các hoạt động trao đổi thương mại trong một quốc gia và phần còn lại của thế giới giống như một mê cung mà các dự báo kinh tế vẫn chưa thể chạm đến.

Các nhà dự báo kinh tế không có thói quen liên tục kiểm tra và bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày.

Phát triển những nguyên lý của Bjerknes, năm 1961 nhà khí tượng học Edward Lorenz thiết lập một hệ phương trình toán học dự báo thời tiết chạy trên máy tính. Ông hoàn toàn bất ngờ khi cùng 1 dữ liệu lại cho 2 kết quả khác nhau hoàn toàn.

Lý do là có một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506. Dự báo kinh tế cũng không khác gì dự báo thời tiết khi đó là một hệ thống vô cùng phức tạp. Nên sức ì tư duy cho rằng một thay đổi nhỏ trong dữ liệu không ảnh hưởng gì đến kết quả có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng.

Để tránh những sai lầm, các nhà dự báo thời tiết có một thói quen mỗi dự báo buổi sáng là một giả thuyết cần được kiểm tra; mỗi buổi tối giả thuyết đó sẽ được xác nhận hoặc bác bỏ.

Kiểm tra và liên tục bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày là điều mà các nhà kinh tế cần có thói quen học tập các nhà vật lý, khí tượng học và khoa học tự nhiên. Nhiều nhà kinh tế giờ thường có mốt thời thượng là hay trưng bày các mô hình kinh tế bóng bẩy kết hợp với việc sử dụng máy học (machine learning) để đưa ra các kết quả dự báo như thể chúng là cánh cửa đi vào tương lai.

Tờ The Economist đã cảnh báo các nhà kinh tế hãy đừng quá đắc thắng và ngạo nghễ về điều này khi trích dẫn ý kiến của giáo sư Deaton (Nobel kinh tế và là chuyên gia khai thác dữ liệu) “nếu chúng ta không biết tại sao mọi thứ đang diễn ra và tại sao chúng ta thực hiện nó, chúng ta sẽ có nguy cơ tạo ra những mối quan hệ nhân quả không có ý nghĩa”.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 mới chớm, khảo sát của những nhà dự báo chuyên nghiệp (Survey of Professional Forecasters) cho kết quả khác xa thực tế. Có đến hơn 70% các nhà kinh tế hàng đầu cho rằng GDP không sụt giảm cho các tháng còn lại của năm.

Kết quả thực tế cho thấy GDP có mức sụt giảm quá lớn (8% trong quý IV). Thế giới hiện đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Chỉ một biến cố nhỏ, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc cách mạng, được biết đến như là hiện tượng được gọi là hiệu ứng cánh bướm (với ẩn dụ nổi tiếng chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas).

Và con virus corona bé nhỏ xuất hiện đã làm thay đổi vĩnh viễn nhiều hành vi của con người so với trước đây và cũng có thể đối với các mô hình dự báo kinh tế.

Câu chuyện dự báo khác xa thực tế của các chuyên gia kinh tế hàng đầu nêu trên cho thấy điều gì? Đó là do quán tính tư duy quá lớn. Do vài thập niên trước đó, các nền kinh tế phát triển đã trải qua thời kỳ “đại ổn định”.

Thế cho nên khi có một cú sốc trên thị trường nhà đất năm 2008, họ vẫn cứ nghĩ đó chỉ là tạm thời rồi trở lại điểm cân bằng. Các nhà kinh tế đã phạm sai lầm do họ thiếu chú ý đến chi tiết nhỏ về việc mất niềm tin của con người vào hệ thống tài chính phức hợp sau hàng thập niên con người có thói quen sống trong thời kỳ đại ổn định.

Giờ đây với sự xuất hiện của virus corona, các nhà dự báo kinh tế càng phải thận trọng hơn với các kết quả của mình. Đừng để cho phê phán của kinh tế gia John Kenneth Galbraith ám ảnh chúng ta rằng: “Chức năng duy nhất của dự báo kinh tế là giúp cho thuật chiêm tinh trở nên vĩ đại”.

Trở lại câu chuyện dự báo tăng trưởng Việt Nam từ nay đến cuối năm. Không biết dựa vào mô hình nào mà các chuyên gia có người dự báo tăng trưởng dương 2-3%, có người lại cho là âm. Cũng có thể do đợt Covid-19 thứ hai xuất hiện ở Đà Nẵng nên các dự báo trở nên bi quan.

Nhưng nếu thế, các chuyên gia đáng lý cũng phải cập nhật các ca nhiễm đang giảm dần để bác bỏ các giả thuyết trước đó. Trong đại dịch lần này con người càng thấm thía hơn câu nói “GDP của một quốc gia đo lường mọi thứ ngoại trừ những thứ làm cho cuộc sống trở nên đáng giá”. Tại sao chúng ta lại tin vào các dự báo tăng trưởng và cứ chạy theo nó mãi.

Ngọc Thơ

TAGS:

Tin bài khác
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.
Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế. Kết luận số 106-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Đây là những định hướng quan trọng nhằm chuyển mục tiêu tăng trưởng thành kết quả thực chất.
Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường quản lý, điều hành giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, phấn đấu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

GRDP tăng 9,06% trong 9 tháng đầu năm 2026, thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI và giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, với yêu cầu GRDP quý IV tăng 13,23%, thành phố cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc dự án và thúc đẩy đầu tư công lẫn tư nhân.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ưu tiên nguồn lực cho những nhu cầu thiết yếu của người dân

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ưu tiên nguồn lực cho những nhu cầu thiết yếu của người dân

Tại Hội nghị triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 sáng 15/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tập trung nguồn lực có trọng tâm, ưu tiên nước sinh hoạt, đất ở, đất sản xuất và các nhiệm vụ trực tiếp cải thiện đời sống, nhất là tại vùng khó khăn; kiên quyết không để người dân phải chờ đợi, không để chính sách bị gián đoạn.
Việt Nam - Lào thúc tiến độ các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm

Việt Nam - Lào thúc tiến độ các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm

Nhằm đưa quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào phát triển thực chất, hiệu quả hơn trong giai đoạn mới, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần đẩy nhanh các tuyến kết nối chiến lược, khơi thông dòng vốn đầu tư và mở rộng hợp tác thương mại.
Đưa doanh nghiệp vào trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Đưa doanh nghiệp vào trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ là những nhiệm vụ trọng tâm được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh. Trong đó, yêu cầu nghiên cứu cơ chế đặt hàng phát triển sản phẩm công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng nhanh được kỳ vọng tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Bắc Ninh: Khi dòng vốn FDI cần tạo sức bật cho doanh nghiệp nội địa

Bắc Ninh: Khi dòng vốn FDI cần tạo sức bật cho doanh nghiệp nội địa

Xuất khẩu đạt 88,3 tỷ USD, thu hút hàng tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài và duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP hai con số, Bắc Ninh đang khẳng định vị thế trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng là bài toán quan trọng hơn: làm thế nào để dòng vốn FDI tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, giúp doanh nghiệp trong nước nâng năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam - Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác 5 lĩnh vực chiến lược

Việt Nam - Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác 5 lĩnh vực chiến lược

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đề nghị Việt Nam - Hoa Kỳ mở rộng hợp tác trong công nghệ cao, năng lượng sạch, chuỗi cung ứng, tài chính - đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực, góp phần đưa quan hệ kinh tế song phương phát triển thực chất, bền vững.
TP. Hồ Chí Minh: Đối thoại cùng Thủ tướng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026

TP. Hồ Chí Minh: Đối thoại cùng Thủ tướng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026

Sáng ngày 28/10/2026, dự kiến Phiên Toàn thể cấp cao có chủ đề “Sự hội tụ của các cực tăng trưởng mới toàn cầu” với những định hướng chiến lược từ Thủ tướng Chính phủ sẽ diễn ra tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 (The Autumn Economic Forum 2026), TP. Hồ Chí Minh.
Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 9,2%

Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 9,2%

Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 từ 8,5% lên 9,2%, sau khi kinh tế tăng 9,01% trong 9 tháng. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, nền kinh tế cần bứt tốc mạnh trong quý IV, trong khi áp lực giá cả và dấu hiệu suy yếu của đơn hàng xuất khẩu vẫn hiện hữu.
Kinh tế tư nhân từ nguồn thu ngân sách đến kiến tạo hạ tầng

Kinh tế tư nhân từ nguồn thu ngân sách đến kiến tạo hạ tầng

Kinh tế tư nhân đang cho thấy vai trò ngày càng rõ hơn: từ tạo việc làm, sản xuất kinh doanh đến đóng góp nguồn lực tài chính và tham gia phát triển những công trình hạ tầng quy mô lớn của đất nước
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ thẻ vàng IUU

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ thẻ vàng IUU

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành và 22 tỉnh, thành phố ven biển siết chặt quản lý đội tàu, xử lý dứt điểm vi phạm, bảo đảm dữ liệu minh bạch, thống nhất, hướng tới mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU trong năm 2026.