Thứ hai 06/07/2026 03:44
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

12/10/2020 00:00
Tuần rồi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã gây chú ý toàn thế giới khi đưa ra khuôn khổ chính sách tiền tệ mới với việc ưu tiên tạo công ăn việc làm đối với tầng lớp có thu nhập thấp. Việt Nam, trong khi đó, lại nói nhiều hơn về câu chuyện tăng trưởng

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

Một số chuyên gia và tổ chức dự báo tăng trưởng dương không còn thực tế, trong khi một số khác cho rằng mục tiêu 2-3% hoàn toàn khả thi.

Giữa các luồng thông tin trên, Chính phủ tuyên bố “phấn đấu GDP tăng trưởng dương năm nay”. Không riêng Việt Nam, vì phần lớn các dự báo kinh tế ở các nước đều khác xa so với thực tế, nên đây cũng là chủ đề của một số bình luận trên báo chí quốc tế gần đây về việc so sánh giữa dự báo kinh tế và dự báo thời tiết.

Các dự báo kinh tế sai lầm do thiếu nền tảng lý thuyết tốt và thiếu cập nhật theo thời gian thực.

Các mô hình dự báo của các nhà kinh tế hầu như luôn dựa trên lý thuyết kinh tế truyền thống là chúng luôn trở lại cân bằng sau khi có các biến động. Trong khi trên thực tế, nền kinh tế lại hoạt động giống như bầu khí quyển, khi đó là một sự cân bằng lỏng lẻo trên bề mặt dựa trên một dòng biến động sâu hơn phía bên dưới.

Nhận định về điều này, Tờ Financial Times mới đây có bài phân tích cho thấy, các nhà kinh tế nên học hỏi từ các nhà dự báo thời tiết vì họ luôn dựa vào các dữ liệu theo thời gian thực. Chẳng hạn nếu mưa đang ở hướng Đông và nếu càng nhiều gió thổi mạnh từ hướng này, sẽ có mưa đến sớm.

Ngay khi đã cập nhật theo thời gian thực, các bản tin dự báo thời tiết vẫn luôn được xem là điều gì đó không chắc chắn. Dù vậy, trong nhiều thập niên qua các mô hình dự báo thời tiết ngày càng hoàn thiện và tốt hơn nhiều so với trước. Chúng tương phản so với các thông tin dự báo kinh tế của các tổ chức quốc tế và của chuyên gia.

Thế giới trải qua biết bao cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay các dự báo chính xác. Thậm chí nhiều doanh nghiệp ngày hôm trước còn xếp hạng tín dụng cao nhất, chỉ thời gian ngắn sau bị phá sản.

Cập nhật theo thời gian thực vẫn chưa đủ. Tờ Financial Times còn cho rằng, các nhà dự báo thời tiết còn có đức tính tốt là luôn chịu khó liên tục quan sát, bắt đầu từ những việc khó khăn nhất. Vào thế kỷ 18, các nhà dự báo thời tiết đã biết tận dụng dữ liệu thô thời tiết đến từ các bức điện tín ở các bưu cục trên toàn nước Mỹ và tập hợp chúng lại để vẽ lộ trình của các cơn mưa và bản đồ thời tiết toàn quốc.

Hơn 3 thế kỷ trôi qua, các nhà kinh tế vẫn còn thiếu nghiêm trọng bản đồ “thời tiết” kinh tế có tần suất và độ phân giải cao, bất chấp ngày nay các dữ liệu hoạt động kinh tế được thu thập qua vệ tinh và qua thanh toán điện tử một cách dễ dàng.

Các nhà dự báo thời tiết đã biết dựa trên các cơ sở lý thuyết tốt. Đầu thế kỷ 19, Bjerknes, nhà toán học người Na Uy, đã thiết lập nên nền tảng cơ bản của dự báo thời tiết.

Nếu biết mật độ, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc không khí theo 3 chiều và đưa vào phương trình toán của Bjerknes, sẽ có được một kết quả dự báo thời tiết đáng tin hơn. Những dạng phương trình như thế, kết hợp với sự phát triển của hệ thống máy tính và vệ tinh đã làm cho dự báo thời tiết ngày càng được cải thiện.

Trong khi đó, các mô hình dự báo kinh tế bị phê phán nặng nề do thiếu vắng nền tảng lý thuyết về các khối hệ thống tài chính, ngân hàng và hành vi con người vô cùng phức tạp. Đó là chưa kể trong thực tế, các hoạt động trao đổi thương mại trong một quốc gia và phần còn lại của thế giới giống như một mê cung mà các dự báo kinh tế vẫn chưa thể chạm đến.

Các nhà dự báo kinh tế không có thói quen liên tục kiểm tra và bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày.

Phát triển những nguyên lý của Bjerknes, năm 1961 nhà khí tượng học Edward Lorenz thiết lập một hệ phương trình toán học dự báo thời tiết chạy trên máy tính. Ông hoàn toàn bất ngờ khi cùng 1 dữ liệu lại cho 2 kết quả khác nhau hoàn toàn.

Lý do là có một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506. Dự báo kinh tế cũng không khác gì dự báo thời tiết khi đó là một hệ thống vô cùng phức tạp. Nên sức ì tư duy cho rằng một thay đổi nhỏ trong dữ liệu không ảnh hưởng gì đến kết quả có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng.

Để tránh những sai lầm, các nhà dự báo thời tiết có một thói quen mỗi dự báo buổi sáng là một giả thuyết cần được kiểm tra; mỗi buổi tối giả thuyết đó sẽ được xác nhận hoặc bác bỏ.

Kiểm tra và liên tục bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày là điều mà các nhà kinh tế cần có thói quen học tập các nhà vật lý, khí tượng học và khoa học tự nhiên. Nhiều nhà kinh tế giờ thường có mốt thời thượng là hay trưng bày các mô hình kinh tế bóng bẩy kết hợp với việc sử dụng máy học (machine learning) để đưa ra các kết quả dự báo như thể chúng là cánh cửa đi vào tương lai.

Tờ The Economist đã cảnh báo các nhà kinh tế hãy đừng quá đắc thắng và ngạo nghễ về điều này khi trích dẫn ý kiến của giáo sư Deaton (Nobel kinh tế và là chuyên gia khai thác dữ liệu) “nếu chúng ta không biết tại sao mọi thứ đang diễn ra và tại sao chúng ta thực hiện nó, chúng ta sẽ có nguy cơ tạo ra những mối quan hệ nhân quả không có ý nghĩa”.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 mới chớm, khảo sát của những nhà dự báo chuyên nghiệp (Survey of Professional Forecasters) cho kết quả khác xa thực tế. Có đến hơn 70% các nhà kinh tế hàng đầu cho rằng GDP không sụt giảm cho các tháng còn lại của năm.

Kết quả thực tế cho thấy GDP có mức sụt giảm quá lớn (8% trong quý IV). Thế giới hiện đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Chỉ một biến cố nhỏ, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc cách mạng, được biết đến như là hiện tượng được gọi là hiệu ứng cánh bướm (với ẩn dụ nổi tiếng chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas).

Và con virus corona bé nhỏ xuất hiện đã làm thay đổi vĩnh viễn nhiều hành vi của con người so với trước đây và cũng có thể đối với các mô hình dự báo kinh tế.

Câu chuyện dự báo khác xa thực tế của các chuyên gia kinh tế hàng đầu nêu trên cho thấy điều gì? Đó là do quán tính tư duy quá lớn. Do vài thập niên trước đó, các nền kinh tế phát triển đã trải qua thời kỳ “đại ổn định”.

Thế cho nên khi có một cú sốc trên thị trường nhà đất năm 2008, họ vẫn cứ nghĩ đó chỉ là tạm thời rồi trở lại điểm cân bằng. Các nhà kinh tế đã phạm sai lầm do họ thiếu chú ý đến chi tiết nhỏ về việc mất niềm tin của con người vào hệ thống tài chính phức hợp sau hàng thập niên con người có thói quen sống trong thời kỳ đại ổn định.

Giờ đây với sự xuất hiện của virus corona, các nhà dự báo kinh tế càng phải thận trọng hơn với các kết quả của mình. Đừng để cho phê phán của kinh tế gia John Kenneth Galbraith ám ảnh chúng ta rằng: “Chức năng duy nhất của dự báo kinh tế là giúp cho thuật chiêm tinh trở nên vĩ đại”.

Trở lại câu chuyện dự báo tăng trưởng Việt Nam từ nay đến cuối năm. Không biết dựa vào mô hình nào mà các chuyên gia có người dự báo tăng trưởng dương 2-3%, có người lại cho là âm. Cũng có thể do đợt Covid-19 thứ hai xuất hiện ở Đà Nẵng nên các dự báo trở nên bi quan.

Nhưng nếu thế, các chuyên gia đáng lý cũng phải cập nhật các ca nhiễm đang giảm dần để bác bỏ các giả thuyết trước đó. Trong đại dịch lần này con người càng thấm thía hơn câu nói “GDP của một quốc gia đo lường mọi thứ ngoại trừ những thứ làm cho cuộc sống trở nên đáng giá”. Tại sao chúng ta lại tin vào các dự báo tăng trưởng và cứ chạy theo nó mãi.

Ngọc Thơ

TAGS:

Tin bài khác
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, hạ tầng, nhà ở và đầu tư, tạo nền tảng quan trọng giúp ngành xây dựng đóng góp mạnh mẽ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Đồng Tháp trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,14%, nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ tư (mở rộng), lãnh đạo tỉnh yêu cầu cả hệ thống chính trị tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư và quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển năm 2026.
Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Chính phủ vừa phát đi thông điệp mạnh mẽ nhằm siết chặt kỷ luật tài chính và đầu tư công. Toàn bộ danh sách người đứng đầu, các tập thể để xảy ra sai sót trong quản lý, sử dụng ngân sách niên độ 2024 trở về trước phải được làm rõ trách nhiệm và tổng hợp gửi về Bộ Nội vụ để trình Thủ tướng Chính phủ xử lý.
Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, nhằm tháo gỡ vướng mắc chi phí và đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm.
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính, trong khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá, tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng.
Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh ước tăng 11,11%, vượt kịch bản đề ra. Cùng với đó, thu ngân sách đạt hơn 48.500 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ và giải ngân đầu tư công tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Theo Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê), công nghiệp Việt Nam đang được hỗ trợ bởi ba động lực lớn gồm FDI, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào và vận tải, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời.
Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Bước ngoặt quan trọng này mở ra cơ hội đưa thuế suất nhiều dòng hàng công nghiệp, thủy sản về 0%, đồng thời thúc đẩy làn sóng đầu tư công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu vào Việt Nam.
Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dịch chuyển vào Việt Nam và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng phó với những rủi ro từ thị trường xuất khẩu, chi phí đầu vào và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Theo ông Đậu Ngọc Hùng, Trưởng ban Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), việc Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành sẽ không được ghi nhận trực tiếp vào giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, song sẽ tạo tác động tích cực thông qua cơ chế chi trả từ tín chỉ carbon, góp phần khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất gia tăng, trong bối cảnh hoạt động sản xuất, đặc biệt ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục khởi sắc.
Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện đạt 13,03 tỷ USD – mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong giai đoạn 2022-2026, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong nửa đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng sự phục hồi của khai khoáng và sản xuất điện.
GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt 8,18%, cho thấy sức chống chịu và động lực phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nêu rõ yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí đầu vào giảm, đồng thời ngăn chặn các hành vi đầu cơ gây bất ổn thị trường.