Thứ tư 16/09/2026 18:41
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

12/10/2020 00:00
Tuần rồi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã gây chú ý toàn thế giới khi đưa ra khuôn khổ chính sách tiền tệ mới với việc ưu tiên tạo công ăn việc làm đối với tầng lớp có thu nhập thấp. Việt Nam, trong khi đó, lại nói nhiều hơn về câu chuyện tăng trưởng

Dự báo tăng trưởng GDP chính xác đến đâu?

Một số chuyên gia và tổ chức dự báo tăng trưởng dương không còn thực tế, trong khi một số khác cho rằng mục tiêu 2-3% hoàn toàn khả thi.

Giữa các luồng thông tin trên, Chính phủ tuyên bố “phấn đấu GDP tăng trưởng dương năm nay”. Không riêng Việt Nam, vì phần lớn các dự báo kinh tế ở các nước đều khác xa so với thực tế, nên đây cũng là chủ đề của một số bình luận trên báo chí quốc tế gần đây về việc so sánh giữa dự báo kinh tế và dự báo thời tiết.

Các dự báo kinh tế sai lầm do thiếu nền tảng lý thuyết tốt và thiếu cập nhật theo thời gian thực.

Các mô hình dự báo của các nhà kinh tế hầu như luôn dựa trên lý thuyết kinh tế truyền thống là chúng luôn trở lại cân bằng sau khi có các biến động. Trong khi trên thực tế, nền kinh tế lại hoạt động giống như bầu khí quyển, khi đó là một sự cân bằng lỏng lẻo trên bề mặt dựa trên một dòng biến động sâu hơn phía bên dưới.

Nhận định về điều này, Tờ Financial Times mới đây có bài phân tích cho thấy, các nhà kinh tế nên học hỏi từ các nhà dự báo thời tiết vì họ luôn dựa vào các dữ liệu theo thời gian thực. Chẳng hạn nếu mưa đang ở hướng Đông và nếu càng nhiều gió thổi mạnh từ hướng này, sẽ có mưa đến sớm.

Ngay khi đã cập nhật theo thời gian thực, các bản tin dự báo thời tiết vẫn luôn được xem là điều gì đó không chắc chắn. Dù vậy, trong nhiều thập niên qua các mô hình dự báo thời tiết ngày càng hoàn thiện và tốt hơn nhiều so với trước. Chúng tương phản so với các thông tin dự báo kinh tế của các tổ chức quốc tế và của chuyên gia.

Thế giới trải qua biết bao cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay các dự báo chính xác. Thậm chí nhiều doanh nghiệp ngày hôm trước còn xếp hạng tín dụng cao nhất, chỉ thời gian ngắn sau bị phá sản.

Cập nhật theo thời gian thực vẫn chưa đủ. Tờ Financial Times còn cho rằng, các nhà dự báo thời tiết còn có đức tính tốt là luôn chịu khó liên tục quan sát, bắt đầu từ những việc khó khăn nhất. Vào thế kỷ 18, các nhà dự báo thời tiết đã biết tận dụng dữ liệu thô thời tiết đến từ các bức điện tín ở các bưu cục trên toàn nước Mỹ và tập hợp chúng lại để vẽ lộ trình của các cơn mưa và bản đồ thời tiết toàn quốc.

Hơn 3 thế kỷ trôi qua, các nhà kinh tế vẫn còn thiếu nghiêm trọng bản đồ “thời tiết” kinh tế có tần suất và độ phân giải cao, bất chấp ngày nay các dữ liệu hoạt động kinh tế được thu thập qua vệ tinh và qua thanh toán điện tử một cách dễ dàng.

Các nhà dự báo thời tiết đã biết dựa trên các cơ sở lý thuyết tốt. Đầu thế kỷ 19, Bjerknes, nhà toán học người Na Uy, đã thiết lập nên nền tảng cơ bản của dự báo thời tiết.

Nếu biết mật độ, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc không khí theo 3 chiều và đưa vào phương trình toán của Bjerknes, sẽ có được một kết quả dự báo thời tiết đáng tin hơn. Những dạng phương trình như thế, kết hợp với sự phát triển của hệ thống máy tính và vệ tinh đã làm cho dự báo thời tiết ngày càng được cải thiện.

Trong khi đó, các mô hình dự báo kinh tế bị phê phán nặng nề do thiếu vắng nền tảng lý thuyết về các khối hệ thống tài chính, ngân hàng và hành vi con người vô cùng phức tạp. Đó là chưa kể trong thực tế, các hoạt động trao đổi thương mại trong một quốc gia và phần còn lại của thế giới giống như một mê cung mà các dự báo kinh tế vẫn chưa thể chạm đến.

Các nhà dự báo kinh tế không có thói quen liên tục kiểm tra và bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày.

Phát triển những nguyên lý của Bjerknes, năm 1961 nhà khí tượng học Edward Lorenz thiết lập một hệ phương trình toán học dự báo thời tiết chạy trên máy tính. Ông hoàn toàn bất ngờ khi cùng 1 dữ liệu lại cho 2 kết quả khác nhau hoàn toàn.

Lý do là có một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506. Dự báo kinh tế cũng không khác gì dự báo thời tiết khi đó là một hệ thống vô cùng phức tạp. Nên sức ì tư duy cho rằng một thay đổi nhỏ trong dữ liệu không ảnh hưởng gì đến kết quả có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng.

Để tránh những sai lầm, các nhà dự báo thời tiết có một thói quen mỗi dự báo buổi sáng là một giả thuyết cần được kiểm tra; mỗi buổi tối giả thuyết đó sẽ được xác nhận hoặc bác bỏ.

Kiểm tra và liên tục bác bỏ các giả thuyết mỗi ngày là điều mà các nhà kinh tế cần có thói quen học tập các nhà vật lý, khí tượng học và khoa học tự nhiên. Nhiều nhà kinh tế giờ thường có mốt thời thượng là hay trưng bày các mô hình kinh tế bóng bẩy kết hợp với việc sử dụng máy học (machine learning) để đưa ra các kết quả dự báo như thể chúng là cánh cửa đi vào tương lai.

Tờ The Economist đã cảnh báo các nhà kinh tế hãy đừng quá đắc thắng và ngạo nghễ về điều này khi trích dẫn ý kiến của giáo sư Deaton (Nobel kinh tế và là chuyên gia khai thác dữ liệu) “nếu chúng ta không biết tại sao mọi thứ đang diễn ra và tại sao chúng ta thực hiện nó, chúng ta sẽ có nguy cơ tạo ra những mối quan hệ nhân quả không có ý nghĩa”.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 mới chớm, khảo sát của những nhà dự báo chuyên nghiệp (Survey of Professional Forecasters) cho kết quả khác xa thực tế. Có đến hơn 70% các nhà kinh tế hàng đầu cho rằng GDP không sụt giảm cho các tháng còn lại của năm.

Kết quả thực tế cho thấy GDP có mức sụt giảm quá lớn (8% trong quý IV). Thế giới hiện đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Chỉ một biến cố nhỏ, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc cách mạng, được biết đến như là hiện tượng được gọi là hiệu ứng cánh bướm (với ẩn dụ nổi tiếng chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas).

Và con virus corona bé nhỏ xuất hiện đã làm thay đổi vĩnh viễn nhiều hành vi của con người so với trước đây và cũng có thể đối với các mô hình dự báo kinh tế.

Câu chuyện dự báo khác xa thực tế của các chuyên gia kinh tế hàng đầu nêu trên cho thấy điều gì? Đó là do quán tính tư duy quá lớn. Do vài thập niên trước đó, các nền kinh tế phát triển đã trải qua thời kỳ “đại ổn định”.

Thế cho nên khi có một cú sốc trên thị trường nhà đất năm 2008, họ vẫn cứ nghĩ đó chỉ là tạm thời rồi trở lại điểm cân bằng. Các nhà kinh tế đã phạm sai lầm do họ thiếu chú ý đến chi tiết nhỏ về việc mất niềm tin của con người vào hệ thống tài chính phức hợp sau hàng thập niên con người có thói quen sống trong thời kỳ đại ổn định.

Giờ đây với sự xuất hiện của virus corona, các nhà dự báo kinh tế càng phải thận trọng hơn với các kết quả của mình. Đừng để cho phê phán của kinh tế gia John Kenneth Galbraith ám ảnh chúng ta rằng: “Chức năng duy nhất của dự báo kinh tế là giúp cho thuật chiêm tinh trở nên vĩ đại”.

Trở lại câu chuyện dự báo tăng trưởng Việt Nam từ nay đến cuối năm. Không biết dựa vào mô hình nào mà các chuyên gia có người dự báo tăng trưởng dương 2-3%, có người lại cho là âm. Cũng có thể do đợt Covid-19 thứ hai xuất hiện ở Đà Nẵng nên các dự báo trở nên bi quan.

Nhưng nếu thế, các chuyên gia đáng lý cũng phải cập nhật các ca nhiễm đang giảm dần để bác bỏ các giả thuyết trước đó. Trong đại dịch lần này con người càng thấm thía hơn câu nói “GDP của một quốc gia đo lường mọi thứ ngoại trừ những thứ làm cho cuộc sống trở nên đáng giá”. Tại sao chúng ta lại tin vào các dự báo tăng trưởng và cứ chạy theo nó mãi.

Ngọc Thơ

TAGS:

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

8 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút gần 10,06 tỷ USD vốn FDI, tăng 167% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 57,7% kế hoạch, cao hơn bình quân chung cả nước. Thành phố cũng quyết định cắt giảm 42% số lượng dự án đầu tư công giai đoạn 2026-2030 để tập trung nguồn lực cho hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư theo phương thức PPP.
TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

Cục Đường sắt Việt Nam đề xuất quy hoạch hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 508 km và 4 ga đầu mối. Tổng nhu cầu vốn dự kiến 544.231 tỷ đồng, trong đó giai đoạn đến năm 2030 cần 92.673 tỷ đồng.
Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn định hình một cấu trúc kinh tế mới, kết nối cao nguyên, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển.
Việt Nam cùng Vương quốc Anh kiến tạo Trung tâm Tài chính Quốc tế

Việt Nam cùng Vương quốc Anh kiến tạo Trung tâm Tài chính Quốc tế

Trong lộ trình vươn mình trở thành đầu mối khơi thông nguồn lực tài chính cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cuộc gặp gỡ sáng 15/9/2026 giữa Lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh và Thị trưởng Trung tâm Tài chính London (Vương quốc Anh) đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt. Không chỉ dừng lại ở những trao đổi ngoại giao mang tính nguyên tắc, hai bên đã cùng đặt lên bàn đàm phán những bài toán hạ tầng cụ thể, tạo dựng một thế đối xứng chiến lược để đưa Trung tâm tài chính quốc tế TP. TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) tăng tốc hội nhập toàn cầu.
Hải Phòng tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thuế cho doanh nghiệp FDI

Hải Phòng tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thuế cho doanh nghiệp FDI

Việc cập nhật chính sách, giải đáp trực tiếp các vấn đề về thuế không chỉ giúp doanh nghiệp FDI thực hiện đúng nghĩa vụ, mà còn góp phần giảm chi phí tuân thủ, củng cố niềm tin và tạo nền tảng cho hoạt động đầu tư ổn định, lâu dài tại Hải Phòng.
Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Slovakia, doanh nghiệp đón thêm cơ hội tại châu Âu

Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Slovakia, doanh nghiệp đón thêm cơ hội tại châu Âu

Việc Việt Nam - Slovakia chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược đang tạo thêm nền tảng để hai nước mở rộng hợp tác kinh tế, công nghệ, năng lượng và quốc phòng, đồng thời thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và đưa các lĩnh vực mới như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào chương trình hợp tác song phương.
Việt Nam sẵn sàng cùng BRICS kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Việt Nam sẵn sàng cùng BRICS kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 mở ra những đổi mới động lực tăng trưởng, khoa học - công nghệ và phát triển bền vững.
Thiếu điện tăng dần đến năm 2030, Bộ Công Thương muốn sửa Quy hoạch điện VIII

Thiếu điện tăng dần đến năm 2030, Bộ Công Thương muốn sửa Quy hoạch điện VIII

Bộ Công Thương dự báo hệ thống điện có thể thiếu 13.964 MW công suất cực đại và 61,18 tỷ kWh sản lượng vào năm 2030, trong kịch bản các dự án nguồn điện tiếp tục chậm tiến độ. Bộ đề xuất triển khai các giải pháp cấp bách, đồng thời điều chỉnh Quy hoạch điện VIII để bảo đảm cung ứng điện.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát giá, ngăn đầu cơ và tăng giá bất hợp lý

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát giá, ngăn đầu cơ và tăng giá bất hợp lý

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động kiểm soát lạm phát, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu và xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá trong những tháng cuối năm 2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 hướng thúc đẩy BRICS tăng trưởng bao trùm

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 hướng thúc đẩy BRICS tăng trưởng bao trùm

Phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 3 định hướng lớn nhằm nâng cao sức chống chịu của các nền kinh tế, kiến tạo động lực tăng trưởng mới và chuyển các cơ hội hợp tác khoa học - công nghệ thành những chương trình, dự án cụ thể.
Việt Nam mở thêm cơ hội hút vốn quốc tế vào hạ tầng hàng không

Việt Nam mở thêm cơ hội hút vốn quốc tế vào hạ tầng hàng không

Trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi, Việt Nam thúc đẩy hợp tác với GMR, hướng tới các dự án sân bay, đô thị sân bay và công nghệ hàng không.
Bộ Công Thương tái phân vai quản lý năng lượng, khoáng sản và thương mại số

Bộ Công Thương tái phân vai quản lý năng lượng, khoáng sản và thương mại số

Cơ cấu mới của Bộ Công Thương vừa giảm số đầu mối, vừa phân lại chức năng quản lý ở nhiều lĩnh vực có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu.
TP. Hồ Chí Minh vươn tới tầm nhìn 100 năm bằng siêu đô thị đa cực

TP. Hồ Chí Minh vươn tới tầm nhìn 100 năm bằng siêu đô thị đa cực

TP. Hồ Chí Minh đang xây dựng một cấu trúc phát triển mới trên không gian hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Mô hình siêu đô thị đa cực, các hành lang liên kết chiến lược cùng hệ thống giao thông đa tầng được kỳ vọng mở rộng không gian tăng trưởng và nâng khả năng chống chịu của đô thị trong 50-100 năm tới.
Doanh nghiệp phải chuyển từ “bán được hàng” sang tham gia chuỗi giá trị

Doanh nghiệp phải chuyển từ “bán được hàng” sang tham gia chuỗi giá trị

Thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh có cấu trúc, kéo theo sự sắp xếp lại chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, doanh nghiệp Việt không thể chỉ cạnh tranh bằng giá và sản lượng, mà phải nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu để giữ lại nhiều hơn giá trị trong chuỗi.
Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội mở rộng đầu tư tại Cần Thơ

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội mở rộng đầu tư tại Cần Thơ

Cần Thơ đang được doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá có nhiều dư địa để mở rộng đầu tư, nhờ nguồn nhân lực, thị trường và vị trí trung tâm vùng. Tuy nhiên, thành phố cần tiếp tục cải thiện hạ tầng khu công nghiệp, điện, thoát nước và môi trường đầu tư để đón dòng vốn mới.