Thứ hai 06/07/2026 05:41
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Doanh nghiệp SME tiếp cận vốn ngân hàng không khó, nhưng cần thời gian chuẩn bị

12/10/2020 00:00
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) gặp khó trong tiếp cận vốn ngân hàng và thậm chí phải dùng tới 60% vốn vay từ tín dụng đen là một vấn đề nhức nhối của nền kinh tế. Nhưng ở một góc nhìn khác, ông Đào Gia Hưng, Phó Giám đốc Khối SME, VPBank, chia sẻ

Tại một cuộc hội thảo về thị trường vốn vừa qua có thông tin cho rằng có những doanh nghiệp SME đang phải dùng tới 60% vốn vay từ tín dụng đen để làm ăn, do không tiếp cận được vốn từ ngân hàng. Đứng từ phía là một người hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, ông có cho rằng đang có một rào cản vô hình giữa các doanh nghiệp SME và ngân hàng không?

Nếu nhìn rộng ra cả nền kinh tế, thì nhận định các doanh nghiệp SME khó tiếp cận với nguồn vốn vay từ ngân hàng là đúng. Điều đó càng đúng với những doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ. Các doanh nghiệp lớn sẽ có lợi thế hơn, các điều kiện để vay thuận lợn hơn khi tiếp cận với các ngân hàng. Thậm chí họ có thể vay ở nhiều ngân hàng khác nhau. Các doanh nghiệp nhỏ thì ngược lại, họ có ít lợi thế hơn và điều kiện đi vay khó khăn hơn.

Ông Đào Gia Hưng, Phó Giám đốc Khối SME, VPBank

Thực tế trong nền kinh tế Việt Nam số doanh nghiệp SME đang chiếm tới hơn 70% tổng số doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này khi không tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng họ sẽ buộc phải đi tìm các nguồn vốn khác, đó là những nguồn vốn vay từ bạn bè, người thân trong gia đình. Tuy nhiên nguồn vốn đó cũng hữu hạn và khi cạn kiệt thì họ sẽ phải tìm đến nguồn vốn từ các tổ chức cho vay nặng lãi, với lãi suất rất cao. Nên nếu nói có những trường hợp phải dùng tới 60% vốn vay từ tín dụng đen để hoạt động là điều có thể hiểu được.

- Vậy rào cản giữa ngân hàng và doanh nghiệp SME đến từ đâu? Do ngân hàng chưa đủ gần gũi với doanh nghiệp hay doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng?

Rào cản đó xuất phát từ cả hai phía. Về phía doanh nghiệp, nguồn vốn vay từ ngân hàng là một nguồn vốn chính thống vì thế cũng phải có những điều kiện chính thống đi kèm. Có những điều kiện mang tính chất chuẩn mực của hệ thống ngân hàng được đưa ra dựa trên cơ sở của Luật các Tổ chức tín dụng mà buộc phải tuân theo. Nhưng những doanh nghiệp nhỏ khi mới bắt đầu tham gia kinh doanh thì hệ thống kế toán, tài chính và minh bạch thông tin chưa được chuẩn, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng sẽ khó.

Thứ hai, các doanh nghiệp nhỏ thường không tích lũy được tài sản nhiều, do đó họ cũng không có tài sản để thế chấp cho các khoản vay. Và thứ 3 là câu chuyện về lòng tin. Nếu các doanh nghiệp nhỏ chưa vay được vốn từ ngân hàng mà cũng không có quan hệ lâu dài với ngân hàng thông qua việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng thì sẽ khó hơn rất nhiều. Thời gian sử dụng dịch vụ của các ngân hàng càng lâu thì các điều kiện cho vay của ngân hàng sẽ càng được nới lỏng.

Về phía ngân hàng. Đúng là nhiều ngân hàng chưa “mở” lắm với phân khúc khách hàng doanh nghiệp SME vì thường là các khoản vay nhỏ nhưng quá trình thẩm định và thu thập hồ sơ thì vẫn phải thực hiện đủ như cho vay các doanh nghiệp lớn. Như vậy cùng một mức chi phí, công sức nhưng hiệu quả cho vay lại không tương xứng nên nhiều ngân hàng vẫn chưa mặn mà lắm với nhóm khách hàng này.

- Hiện nay VPBank đang là một trong số ít các ngân hàng có riêng một mảng kinh doanh phục vụ nhóm khách hàng doanh nghiệp SME. Vậy VPBank làm sao để hài hòa các điểm vênh giữa doanh nghiệp SME và mục tiêu hoạt động của ngân hàng như ông nói ở trên?

Tại VPBank chúng tôi có cách tiếp cận hơi khác một chút so với quan niệm truyền thống của hệ thống ngân hàng trong phân khúc này. Nếu chỉ phân tích sơ qua, thì thấy rằng ở phân khúc này chỉ cho vay được những khoản vay nhỏ và tốn chi phí. Nhưng VPBank nhìn thấy ở đó là một thị trường lớn với hơn 70% số doanh nghiệp của cả nước. Đi sâu vào phân tích, chúng tôi thấy họ là những doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn sẵn sàng chia sẻ cùng ngân hàng về lợi nhuận và hiệu quả để đôi bên cùng có lợi. Nếu giữa ngân hàng và doanh nghiệp xây dựng được lòng tin thì sẽ giải quyết được tất cả các trở ngại và khó khăn đã nói ở trên.

Chính vì vậy chúng tôi đưa ra các gói giải pháp đơn giản để làm sao các doanh nghiệp siêu nhỏ có thể đáp ứng được. Khi họ phát triển ở một quy mô lớn hơn, thì gói họ sẽ tiếp cận ở một gói giải pháp khác. Mặt khác, lãi suất chúng tôi đưa ra có thể ở mức cạnh tranh tương đối so với các sản phẩm cho vay truyền thống, nhưng lại ở mức rất hấp dẫn nếu so với các khoản vay từ tín dụng đen. Do đó, các khách hàng SME của chúng tôi sẵn sàng chia sẻ với mức lãi suất như vậy.

- Ông có thể chứng minh tính ưu việt của những giải pháp dành cho các doanh nghiệp SME tại VPBank qua các con số?

Trong năm ngoái, trung bình mỗi tháng chúng tôi có thêm 1.000 doanh nghiệp SME trở thành khách hàng mới của VPBank. Xét riêng nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, tốc độ tăng trưởng về số lượng khách hàng gấp đôi so với năm 2016. Sáu tháng đầu năm nay, số lượng khách hàng của chúng tôi tiếp tục tăng trưởng từ 30%-40%.

Sau 3 năm mở riêng mảng kinh doanh khách hàng doanh nghiệp SME, số lượng doanh nghiệp SME được VPBank phục vụ đã lên tới hơn 75.000 doanh nghiệp, tương đương 10% tổng số doanh nghiệp trên cả nước. Những con số đó nói lên tất cả sự thành công và nỗ lực tiến gần hơn tới các doanh nghiệp SME của VPBank, cho thấy chúng tôi là một trong những địa chỉ hỗ trợ nguồn vốn tích cực dành cho các doanh nghiệp SME.

- Cuối cùng, theo ông các doanh nghiệp SME nếu muốn tiếp cận với vốn vay ngân hàng thì trước hết họ phải làm gì?

Với một doanh nghiệp cần phải tiếp cận vốn ngân hàng thì điều kiện cốt lõi nhất là doanh nghiệp đó càng minh bạch càng tốt trong hoạt động kinh doanh của mình. Điều kiện thứ 2 là doanh nghiệp đó đang hoạt động và có tăng trưởng trong ngành của mình. Thứ 3 là doanh nghiệp đó cần chuẩn bị và làm quen với điều kiện ngân hàng về sự đồng nhất, chuẩn chỉnh của số liệu tài chính. Vì khi đi vay tức là lấy vốn của người khác, mình phải chứng minh cho người khác thấy hoạt động kinh doanh của mình ra sao. Trong thời gian gần đây nhiều ngân hàng cũng đang nhận ra tiềm năng của phân khúc này và họ bắt đầu có cách tiếp cận mở hơn cho nhóm doanh nghiệp SME.

Hi vọng thời gian tới tiếp cận vốn sẽ nhiều hơn. Nhưng các ngân hàng có mở thế nào đi chăng nữa thì vẫn có những điều kiện tín dụng và phòng ngừa rủi ro nhất định phải đáp ứng.

PV

Tin bài khác
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, hạ tầng, nhà ở và đầu tư, tạo nền tảng quan trọng giúp ngành xây dựng đóng góp mạnh mẽ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Đồng Tháp trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,14%, nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ tư (mở rộng), lãnh đạo tỉnh yêu cầu cả hệ thống chính trị tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư và quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển năm 2026.
Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Chính phủ vừa phát đi thông điệp mạnh mẽ nhằm siết chặt kỷ luật tài chính và đầu tư công. Toàn bộ danh sách người đứng đầu, các tập thể để xảy ra sai sót trong quản lý, sử dụng ngân sách niên độ 2024 trở về trước phải được làm rõ trách nhiệm và tổng hợp gửi về Bộ Nội vụ để trình Thủ tướng Chính phủ xử lý.
Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, nhằm tháo gỡ vướng mắc chi phí và đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm.
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính, trong khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá, tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng.
Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh ước tăng 11,11%, vượt kịch bản đề ra. Cùng với đó, thu ngân sách đạt hơn 48.500 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ và giải ngân đầu tư công tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Theo Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê), công nghiệp Việt Nam đang được hỗ trợ bởi ba động lực lớn gồm FDI, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào và vận tải, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời.
Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Bước ngoặt quan trọng này mở ra cơ hội đưa thuế suất nhiều dòng hàng công nghiệp, thủy sản về 0%, đồng thời thúc đẩy làn sóng đầu tư công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu vào Việt Nam.
Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dịch chuyển vào Việt Nam và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng phó với những rủi ro từ thị trường xuất khẩu, chi phí đầu vào và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Theo ông Đậu Ngọc Hùng, Trưởng ban Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), việc Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành sẽ không được ghi nhận trực tiếp vào giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, song sẽ tạo tác động tích cực thông qua cơ chế chi trả từ tín chỉ carbon, góp phần khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất gia tăng, trong bối cảnh hoạt động sản xuất, đặc biệt ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục khởi sắc.
Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện đạt 13,03 tỷ USD – mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong giai đoạn 2022-2026, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong nửa đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng sự phục hồi của khai khoáng và sản xuất điện.
GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt 8,18%, cho thấy sức chống chịu và động lực phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nêu rõ yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí đầu vào giảm, đồng thời ngăn chặn các hành vi đầu cơ gây bất ổn thị trường.