Chủ nhật 04/10/2026 20:59
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cổ phần hóa vào giai đoạn “nước rút”: Thêm nhiều hàng tốt cho nhà đầu tư

12/10/2020 00:00
Ngọn cờ tiên phong cắt giảm lãi suất cho vay của một số ngân hàng lớn vào đầu tháng 8 vừa qua đã không được các ngân hàng khác hưởng ứng. Lãi suất cho vay (LSCV) không thể giảm mà có nguy cơ tăng.

Các ngân hàng quyết định giảm LSCV 0,5% với các đối tượng khách hàng ưu tiên nhằm hỗ trợ DN là câu chuyện được thị trường hoan nghênh. Quyết định đó diễn ra đúng vào thời điểm nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế giới đồng loạt cắt giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế, đã làm cho thị trường kỳ vọng sẽ có một làn sóng ngân hàng cắt giảm sâu LSCV. Thực tế có như kỳ vọng?

Chỉ làm “màu” thôi

Không thể phủ nhận việc các ngân hàng cổ phần nhà nước quyết định cắt giảm LSCV là hưởng ứng chủ trương của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP (1/1/2018). Tuy nhiên, khi được hỏi các ngân hàng khác có theo phong trào không, giám đốc chi nhánh một ngân hàng cổ phần tư nhân tại TP Hồ Chí Minh phát ngay: “Họ có điều kiện giá mua vốn rẻ nên có thể giảm giá bán vốn được, còn các ngân hàng khác rất khó, hơn nữa đây cũng làm “màu” thôi vì DN khó đủ chuẩn ưu tiên để vay”.

Cổ phần hóa vào giai đoạn “nước rút”: Thêm nhiều hàng tốt cho nhà đầu tư
 Giao dịch tại chi nhánh LienVietpostbank Hà Nội. Ảnh: Công Hùng

Đầu năm 2016, Agribank thông báo khá nhiều chương trình cho vay ưu đãi, trong đó có chương trình dành 50.000 tỷ đồng cho vay “nông nghiệp sạch” với mức lãi suất giảm từ 0,5 - 1,5%. Thế nhưng dư nợ cho vay chương trình này của ngân hàng đến 30/4/2018 (sau hơn 2 năm) là 5.108 tỷ đồng, chỉ đạt 10,2% kế hoạch, xem như khó thành công.

Tương tự lãi suất giảm 0,5 - 1,5%, đầu năm 2018, Chính phủ khởi xướng gói 100.000 tỷ đồng cho vay nông nghiệp công nghệ cao đã được 8 ngân hàng hưởng ứng toàn bộ. Nhưng đến nay kết quả thực tế ra sao không có báo cáo, chỉ biết sau nửa năm triển khai chương trình này vẫn bất động. Rất nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi được các ngân hàng công bố nhưng không báo cáo con số thực hiện nên khó kiểm chứng kết quả.

Việc triển khai các gói tín dụng với lãi suất ưu đãi là chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng. Một mặt ngân hàng san sẽ bớt khó khăn cho DN nhưng, và có lẽ quan trọng nhất giúp ngân hàng xây dựng thương hiệu của mình. Đến đây cho thấy câu chuyện giảm lãi suất của một số ngân hàng hiện nay dường như không liên quan với đồn đoán tăng giảm lãi suất trên thị trường. LSCV giảm hay sẽ tăng nằm ở vấn đề khác.

Nhiều yếu tố kích tăng đè cơ hội giảm

Nếu nhìn một cách lạc quan hiện tại các biến vĩ mô như lạm phát, tỷ giá, hay tăng trưởng đang ở tầm kiểm soát và ổn định, nên sẽ chưa có động thái can thiệp tiền tệ nào từ NHNN. Đó là môi trường vĩ mô tốt cho ổn định lãi suất. Việc NHNN cắt giảm 0,25% lã suất tín phiếu, từ 3% xuống còn mức 2,75% giữa tháng 7 vừa rồi chỉ là động thái mang tính kỷ thuật trong điều tiết cung cầu tiền tệ hàng ngày, không vì mục đích can thiệp lãi suất thị trường.

Trước nguy cơ kinh tế toàn cầu sụt giảm NHTW nhiều nước đã chủ động cắt giảm lãi suất, sau Fed là NHTW các nước như New Zealand, Ấn Độ, Thái Lan… và danh sách giờ đây đã dài hơn. Do đó, đã xuất hiện ý kiến từ một nhà khoa học lớn cho rằng: “Chẳng lý nào NHNN không tìm ra công cụ phi truyền thống hay đặc thù nào của thể chế, buộc các ngân hàng cắt giảm lãi suất, chia sẻ khó khăn với nền kinh tế”.

Đây không phải bài phản biện ý kiến nêu trên, song nên nhớ không có một NHTW nước nào làm được chuyện đó. NHNN Việt Nam đang điều hành chính sách tiền tệ quốc gia theo hướng phù hợp thông lệ quốc tế lại điều hành theo mệnh lệnh hành chính là sao? Mặt bằng lãi suất là câu chuyện của thị trường, muốn can thiệp thì NHNN chỉ bằng thông qua các công cụ chính sách tiền tệ (truyền thống) sao lại bắt ép được ngân hàng thương mại?

Xu hướng giảm lãi suất trên thị trường thế giới là không bàn cãi. Tuy vậy trong ngắn hạn, ít nhất đến năm 2020, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng không những không giảm mà có nguy cơ tăng đã rõ ràng do nhiều yếu tố nội tại kích tăng đè nặng cơ hội giảm. Thị phần tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng đang bị co lại, đẩy lãi suất huy động lên cao.

Tổng nguồn tiền tiết kiệm trong nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể là không đổi. Chủ sở hữu sẽ bỏ tiền vào nơi có mức sinh lời hấp dẫn và an toàn. Trái phiếu đang được DN phát hành có mức lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm ngân hàng từ 3,5 - 5,4% cho dù có rủi ro cao hơn thì nhiều người vẫn lựa chọn.

Quy mô huy động vốn trái phiếu đã tăng và sẽ bùng nổ trong thời gian tới. Không những DN tăng nhu cầu vốn trái phiếu thay thế vốn vay ngân hàng đang khó, mà các ngân hàng cũng trong xu hướng đẩy mạnh phát hành trái phiếu để hoàn thành chỉ tiêu vốn cấp 2 vào đầu năm 2020 theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN.

Hiện đang nhiều ngân hàng như Agribank, VietinBank và Eximbank đang thông báo phát hành 5.000 tỷ đồng vốn trái phiếu cho mỗi ngân hàng. Mức lãi suất trái phiếu của Agribank đang dự kiến khoảng 8,1 - 8,2%, cao hơn lãi suất tiết kiệm kỳ hạn trên 12 tháng tại chính ngân hàng từ 1,2 - 1,3%. Thực tế lãi suất trái phiếu ngân hàng đã lên mức đó thì lãi suất trái phiếu của các DN khó dưới mức 12 - 13%, thậm chí hơn.

Nếu tính từ ngày 8/6 đến 21/8 (73 ngày) giá vàng trong nước tăng 4,45 triệu đồng/lượng, tương đương gần 12%. Giá vàng trong nước tăng do giá vàng thế giới tăng. Nguyên nhân của việc tăng giá vàng do bất ổn từ chiến tranh thương mại MỸ - Trung, nhưng chủ yếu do Fed tuyên bố ngừng tăng lãi suất và chính thức cắt giảm suất 0,25% vào ngày 1/8 sau 11 năm.

So với đợt sóng vàng dữ dội kéo dài vào năm 2011 - 2013 thì đợt sóng vàng lần này chưa xuất hiện tình trạng đầu cơ vì số lượng người tham gia giao dịch chưa tấp nập và chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới xuất hiện chưa đáng kể. Tuy vậy, vàng vẫn là nơi ẩn nấp an toàn cuối cùng. Đầu tư vàng bắn một phát đạn trúng 2 mục đích, vừa đầu cơ kiếm lời vừa nắm giữ tài sản an toàn. Cho nên sẽ có một dòng tiền lớn được rút ra từ tiết kiệm đổ vào thị trường vàng.

Bên cạnh vàng là bất động sản. Từ cả chục năm nay thị trường bất động sản phát triển trên lưng nguồn vốn cấp từ ngân hàng và ứng trước của khách hàng. Hiện NHNN đang tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thắt chặt hạn chế tỷ trọng tín dụng bất động sản để tránh rủi ro tiềm ẩn.

Do đó, các DN bất động sản một mặt tìm cách phát hành trái phiếu, mặt khác đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm dựa vào nguồn vốn cá nhân dưới hình thức ủy thác đầu tư, liên kết đầu tư. Biểu hiện rõ nhất là dòng sản phẩm bất động sản nghỉ dưỡng. Thay vì đầu tư tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, nhiều cá nhân/gia đình đã lựa chọn hình thức đầu tư ủy thác hoặc đầu tư trái phiếu bất động sản có lãi suất cao.

Khi thị phần huy động vốn bị co hẹp đương nhiên ngân hàng sẽ dùng các “chiêu” hợp pháp để giành giật. Hiệu quả nhất là cạnh tranh lãi. Thực tế những ngày gần đây đồng loạt nhiều ngân hàng đua nhau tăng lãi suất với mức chênh lệch rất cao so với trước là câu chuyện tự nó đã minh chứng.

Chẳng hạn mức lãi suất chứng chỉ tiền gửi tại Viet Capital bank loại kỳ hạn 24 tháng là 9,5%, loại kỳ hạn 60 tháng là 10,2%; tương tự tại VietA Bank là 9,1% với kỳ hạn 24 tháng; VIB là 9,1% với kỳ hạn 61 tháng;… ABBank lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng tăng từ 7,7% lên 8,5%; tương tự SHB tăng từ 7,2% lên 8,1% cho kỳ hạn 12 tháng… Danh sách ngân hàng tăng lãi suất còn kéo dài và sẽ phủ sóng các ngân hàng tư nhân.

Như vậy, giảm LSCV đã trở nên không tưởng với hàng loạt ngân hàng. Điều này đặt các ngân hàng đứng trước một trong hai lựa chọn, hoặc hy sinh lợi nhuận để không tăng LSCV, hoặc bảo toàn lợi nhuận buộc tăng LSCV. Đương nhiên ngân hàng sẽ không chịu làm không cho ai cả. Giờ đây đã đủ cảm nhận sự vô lý trong ý kiến đòi hỏi NHNN phải ép các ngân hàng cắt giảm LSCV của nhà khoa học lớn nói trên.

Xu hướng giảm lãi suất trên thị trường thế giới là không bàn cãi. Tuy vậy trong ngắn hạn, ít nhất đến năm 2020, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng không những không giảm mà có nguy cơ tăng đã rõ ràng do nhiều yếu tố nội tại kích tăng đè nặng cơ hội giảm. Thị phần tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng đang bị co lại, đẩy lãi suất huy động lên cao.


Khi thị phần huy động vốn bị co hẹp đương nhiên ngân hàng sẽ dùng các “chiêu” hợp pháp để giành giật. Hiệu quả nhất là cạnh tranh lãi suất. Thực tế những ngày gần đây đồng loạt nhiều ngân hàng đua nhau tăng lãi suất với mức chênh lệch rất cao so với trước là câu chuyện tự nó đã minh chứng.

TS Phan Văn Thường

Tin bài khác
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Tính đến 12 giờ ngày 30/9/2026, Đắk Lắk đã ghi nhận dòng vốn đầu tư công giải ngân đạt hơn 7.096,5 tỷ đồng, chính thức cán mốc 101% so với cam kết đăng ký với Bộ Tài chính. Sự bứt phá này cho thấy hiệu quả điều hành sát sao của chính quyền, song áp lực giải ngân 100% cho cả năm vẫn đòi hỏi những chuyển dịch quản trị quyết liệt, không có chỗ cho sự chủ quan.
TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh vươn lên vị trí 67 trong bảng xếp hạng Trung tâm Tài chính Toàn cầu, tăng 17 bậc so với kỳ đánh giá tháng 3/2026. Kết quả này cho thấy vị thế tài chính của Thành phố đang được cải thiện, nhưng bài toán tiếp theo là biến thứ hạng thành sức hút dòng vốn thực tế.
Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

APEC 2027 tại Phú Quốc đang đến gần, tạo thêm động lực để An Giang đẩy nhanh hạ tầng giao thông, tăng khả năng kết nối Rạch Giá, Long Xuyên, Phú Quốc với mạng lưới cao tốc, hàng không, đường thủy, qua đó mở rộng không gian phát triển và tạo thêm điều kiện thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Từ khó tiếp cận vốn, định giá tài sản trí tuệ đến bài toán thương mại hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường, hàng loạt vướng mắc của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số đã được Hà Nội trực tiếp lắng nghe, phân loại và đưa ra hướng xử lý.
Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Doanh thu công nghiệp công nghệ số tháng 9/2026 ước đạt 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, lĩnh vực này đạt khoảng 5,39 triệu tỷ đồng, tăng 32,1%, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao.
Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn phát triển cao tốc ước khoảng 1,269 triệu tỷ đồng, trong đó khoảng 846.000 tỷ đồng cần tiếp tục cân đối, huy động. Bộ Xây dựng đang xúc tiến 29 dự án ưu tiên theo phương thức PPP.
Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ mở rộng hạ tầng và gia tăng ứng dụng AI sang xây dựng một hệ sinh thái công nghệ có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức nghiên cứu. Mục tiêu là nâng cao năng lực phát triển, tích hợp, vận hành và từng bước làm chủ các công nghệ mới.
Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III/2026 tăng 8,7% so với cùng kỳ, nhỉnh hơn mức 8,4% của quý II. Sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu và nhu cầu trong nước được kỳ vọng tiếp tục tạo lực đỡ cho tăng trưởng, trong khi môi trường kinh tế bên ngoài vẫn tiềm ẩn những yếu tố khó đoán.