Thứ bảy 03/10/2026 18:58
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu: Cần thanh tra lại hệ số CAR của các ngân hàng áp dụng Thông tư 41

12/10/2020 00:00
Từ 1/1/2020, Thông tư 41/2016 quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tương đương Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, có hiệu lực. Thông tư này áp dụng với ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàn

  • Một số nhà kinh doanh đang tham vọng đưa được khách du lịch lũ lượt kéo đến nghỉ dưỡng tại Condotel để sinh lời khủng dường như là điều không tưởng.

    Tại: TS. Nguyễn Trí Hiếu: "Cocobay Đà Nẵng đơn phương hủy cam kết 12% là không hợp pháp"

  • Từ nay đến cuối năm giá vàng thế giới vẫn có khả năng tăng, khoảng 5%, tương đương mốc 1.620 USD

    Tại: Vàng lại tăng giá, có nên mua vàng lúc này?

Thông tư yêu cầu các TCTD phải đạt tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất là 8%, thấp hơn mức 9% của Thông tư 13/2010, nhưng yêu cầu khắt khe hơn về đánh giá tài sản rủi ro theo chuẩn Basel II.

Người Đồng Hành đã phỏng vấn chuyên gia tài chính, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu xoay quanh quá trình triển khai Thông tư 41/2016 và định hướng Basel II của ngành ngân hàng.

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu: Cần thanh tra lại hệ số CAR của các ngân hàng áp dụng Thông tư 41 - Ảnh 1.

Chuyên gia tài chính, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu. Ảnh: VNF

- Theo dõi quá trình triển khai Thông tư 41/2016 và Basel II, ông nhìn nhận việc triển khai của các ngân hàng hiện như thế nào?

Hiện nay có 18 ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận áp dụng Thông tư 41. Văn bản này yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% với các TCTD, đây là một trong 3 trụ cột của hiệp ước Basel II.

Dù được chấp thuận nhưng kết quả áp dụng như thế nào thì cần phải thanh tra và có sự giám sát của NHNN chứ không phải họ đã áp dụng Thông tư 41 rồi thì sau đó tiêu chí tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu luôn trên 8%. Sau khi áp dụng các ngân hàng sẽ vẫn cần bảo đảm vốn khi tăng trưởng tín dụng để giữ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Đây mới là vấn đề quan trọng, còn họ áp dụng được rồi thì mới chỉ là khởi đầu thôi.

Mặt khác, Thông tư 41 mới chỉ là một phần của Basel II, không phải toàn bộ. Vì Basel II có 3 trụ cột, bên cạnh trụ cột đầu tiên, trụ cột thứ hai là đáp ứng quy trình nội bộ để kiểm soát rủi ro và trụ cột thứ 3 là tất cả thông tin phải minh bạch.

Thông tư 41 áp dụng năm 2020 là bước đầu, thành ra không thể nói 18 ngân hàng đó đã áp dụng được basel II. Chỉ duy nhất VIB vừa qua công bố thực hiện được 3 trụ cột thì có thể đạt Basel II nâng cao, còn những ngân hàng còn lại chỉ áp dụng thông tư 41 chứ không phải Basel II.

Ngoài 18 ngân hàng, phần còn lại cũng chưa có khả năng để áp dụng hiệp ước Basel II.

- Vì sao ban hành năm 2016 nhưng NHNN để thời gian hiệu lực của Thông tư 41 từ đầu năm 2020, 3 năm sau khi công bố?

- Tháng 12/2016, khi Thông tư 41 ra đời thì ngày hiệu lực là 1/1/2020, các ngân hàng thông báo được áp dụng vừa qua đã đi đúng lộ trình.

NHNN cho thời gian 3 năm vì để thực hiện Thông tư 41 đòi hỏi rất nhiều thay đổi về bộ máy, tổ chức, quản lý rủi ro, đánh giá rủi ro cho tín dụng, rủi ro cho thị trường, rủi ro cho nghiệp vụ. Những thay đổi trong cách tính như vậy không dễ dàng.

Các ngân hàng phải tìm lại số liệu quá khứ vì trong cách tính đó có yếu tố xác suất vỡ nợ của khách hàng. Cái này phụ thuộc vào kinh nghiệm quá khứ của ngân hàng, nên họ phải thu thập dữ liệu, và phân tách. Công đoạn này tương đối phức tạp. Đây cũng là vấn đề khúc mắc lớn nhất với các ngân hàng khi chuyển đổi lên Basel II.

Thông tư 41 quy định nhiều ngạch số cho các loại nợ bao gồm nợ bất động sản, nợ tiêu dùng… Ngân hàng phải phân tích cả danh mục cho vay của họ và chia theo quy định của thông tư để áp dụng hệ số rủi ro. Cần nhiều yếu tố để tính xác suất vỡ nợ. Trước đó, nhiều ngân hàng không nhất quán trong cách phân loại nợ, vì thế việc thực hiện không dễ.

- Vốn và chi phí có phải là khó khăn của các ngân hàng khi chuyển đổi?

- Tăng vốn và chi phí là 2 vấn đề tiếp theo làm khó các ngân hàng. Sau khi thống kê lại hệ thống, thu thập dữ liệu và gán hệ số rủi ro, các nhà băng sẽ tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41 với công thức tổng tài sản có gồm 3 phần tổng tài sản theo rủi ro tín dụng, theo rủi ro thị trường và theo rủi ro nghiệp vụ. Nếu tỷ lệ an toàn vốn không đạt tối thiểu 8%, họ phải bổ sung vốn.

Các ngân hàng phải tìm cách huy động vốn từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, hoặc giữ lợi nhuận lại chia cổ tức bằng cổ phiếu. Đây là 2 cách mà các ngân hàng đang thực hiện trong những năm qua.

Mặt khác, nếu không thể tăng vốn với những cách trên, theo tôi các ngân hàng phải tiến hành sáp nhập vào với nhau để tạo nên ngân hàng mạnh hơn. Nếu không thể thực hiện đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu sau 1,2 năm thì họ phải áp dụng luật phá sản của ngân hàng, để Nhà nước cấp vốn hoặc chịu sự kiểm soát đặc biệt của NHNN.

Chi phí cũng là vấn đề với nhiều ngân hàng. Chi phí để chuyển đổi sang Basel II rất lớn và tùy thuộc vào quy mô mỗi ngân hàng và mức độ đầu tư công nghệ, nhân lực.

Với ngân hàng quy mô nhỏ, hoặc đã có hệ thống công nghệ tiên tiến, có hệ thống phân loại nợ tốt thì chi phí của họ sẽ thấp hơn các ngân hàng khác. Những ngân hàng công nghệ lạc hậu, và việc phân loại dữ liệu không nhất quán trong quá khứ, họ phải tìm lại sổ sách phân loại nợ, đầu tư công nghệ thông tin, về nhân lực, từ đó tổng thể chi phí chuyển đổi sẽ rất lớn. Không có con số cụ thể chung cho các ngân hàng và thường các nhà băng cũng không công bố thông tin này.

- Những ngân hàng chưa đạt Thông tư 41/2016 phải làm gì, thưa ông?

- Các nhà băng chưa được phê duyệt áp dụng Thông tư 41/2016 phải thực hiện từng bước, thu thập dữ liệu, tính toán lại hệ số an toàn vốn trên cơ sở tính tài sản có rủi ro về tín dụng, thị trường, nghiệp vụ. Căn cứ vào đó nhà băng sẽ xây dựng phương án tăng vốn, để đảm bảo tỷ lệ tối thiểu.

Mặt khác, trong Thông tư 22/2019, NHNN đã để mở cho các ngân hàng chưa thực hiện Thông tư 41/2016, nới thêm 3 năm để thực hiện (hạn chót đến hết năm 2022), bằng việc yêu cầu các đơn vị này gửi văn bản đến NHNN trước ngày 1/1/2020 nêu rõ lý do và giải pháp, lộ trình để đảm bảo tuân thủ Thông tư 41.

Tôi cho rằng NHNN đã cho các ngân hàng 3 năm chuẩn bị nhưng họ không làm được thì phải có biện pháp xử lý. Việc nới thời hạn thực hiện của một thông tư với một nhóm ngân hàng sẽ tạo tiền lệ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng đã có thời gian thực hiện, nếu họ không làm được thì phải xử lý một cách nghiêm túc hơn.

Theo Lê Hải

Bài liên quan
Tin bài khác
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Tính đến 12 giờ ngày 30/9/2026, Đắk Lắk đã ghi nhận dòng vốn đầu tư công giải ngân đạt hơn 7.096,5 tỷ đồng, chính thức cán mốc 101% so với cam kết đăng ký với Bộ Tài chính. Sự bứt phá này cho thấy hiệu quả điều hành sát sao của chính quyền, song áp lực giải ngân 100% cho cả năm vẫn đòi hỏi những chuyển dịch quản trị quyết liệt, không có chỗ cho sự chủ quan.
TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh vươn lên vị trí 67 trong bảng xếp hạng Trung tâm Tài chính Toàn cầu, tăng 17 bậc so với kỳ đánh giá tháng 3/2026. Kết quả này cho thấy vị thế tài chính của Thành phố đang được cải thiện, nhưng bài toán tiếp theo là biến thứ hạng thành sức hút dòng vốn thực tế.
Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

APEC 2027 tại Phú Quốc đang đến gần, tạo thêm động lực để An Giang đẩy nhanh hạ tầng giao thông, tăng khả năng kết nối Rạch Giá, Long Xuyên, Phú Quốc với mạng lưới cao tốc, hàng không, đường thủy, qua đó mở rộng không gian phát triển và tạo thêm điều kiện thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Từ khó tiếp cận vốn, định giá tài sản trí tuệ đến bài toán thương mại hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường, hàng loạt vướng mắc của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số đã được Hà Nội trực tiếp lắng nghe, phân loại và đưa ra hướng xử lý.
Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Doanh thu công nghiệp công nghệ số tháng 9/2026 ước đạt 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, lĩnh vực này đạt khoảng 5,39 triệu tỷ đồng, tăng 32,1%, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao.
Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Cần 846.000 tỷ đồng để phát triển cao tốc giai đoạn 2026 - 2030

Giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn phát triển cao tốc ước khoảng 1,269 triệu tỷ đồng, trong đó khoảng 846.000 tỷ đồng cần tiếp tục cân đối, huy động. Bộ Xây dựng đang xúc tiến 29 dự án ưu tiên theo phương thức PPP.
Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ mới, không chỉ dừng ở ứng dụng AI

Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ mở rộng hạ tầng và gia tăng ứng dụng AI sang xây dựng một hệ sinh thái công nghệ có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức nghiên cứu. Mục tiêu là nâng cao năng lực phát triển, tích hợp, vận hành và từng bước làm chủ các công nghệ mới.
Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7%

Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III/2026 tăng 8,7% so với cùng kỳ, nhỉnh hơn mức 8,4% của quý II. Sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu và nhu cầu trong nước được kỳ vọng tiếp tục tạo lực đỡ cho tăng trưởng, trong khi môi trường kinh tế bên ngoài vẫn tiềm ẩn những yếu tố khó đoán.