![]() |
| Thông tư số 08/2026/TT-NHNN cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cấu phần huy động vốn đang mở thêm dư địa tăng trưởng tín dụng cho hệ thống ngân hàng, nhất là nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước (Ảnh minh họa) |
Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN), tính đến ngày 28/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã vọt lên hơn 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm ngoái và tăng tới 18,26% so với cùng kỳ năm 2025.
Trái ngược với đà bứt tốc của cho vay, tốc độ huy động vốn từ nền kinh tế lại dậm chân tại chỗ, tạo ra một khoảng trống chênh lệch lên tới khoảng 2 triệu tỷ đồng.
Áp lực càng bị đẩy lên đỉnh điểm bởi lộ trình siết chặt cũ tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN (được sửa đổi bởi Thông tư 26/2022/TT-NHNN). Quy định này bắt buộc từ năm 2026, toàn bộ nguồn tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) — vốn có quy mô lên tới hơn nửa triệu tỷ đồng — sẽ bị loại hoàn toàn khỏi cấu phần tổng tiền gửi để tính toán tỷ lệ an toàn LDR (dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi).
Điều này đẩy tỷ lệ LDR của nhóm 4 ngân hàng thương mại Nhà nước (Big 4) tính đến cuối tháng 3/2026 lao thẳng lên sát trần an toàn 85%. Cụ thể, Vietcombank chạm mức 84,54%, VietinBank là 83,48%, BIDV đạt 82,94% và Agribank ở mức 83,28%. Nhằm không vi phạm lằn ranh đỏ, các nhà băng buộc phải lao vào cuộc đua huy động vốn gắt gao trong dân cư, vô hình trung đẩy mặt bằng lãi suất đầu vào căng thẳng.
Thông tư 08/2026/TT-NHNN: "Mở van" mẫu số LDR
Để giải tỏa cơn khát thanh khoản, NHNN đã chính thức ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN sửa đổi quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn. Kể từ ngày 15/5, các tổ chức tín dụng được phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của KBNN vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR. Tuy nhiên, quy định mới vẫn phân hóa rất rõ ràng: Các khoản mục như tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng và tiền gửi không kỳ hạn của kho bạc tiếp tục bị loại trừ.
![]() |
| Tại Vietcombank: Số dư tiền gửi KBNN cuối quý I đạt 189.159 tỷ đồng, trong đó tiền gửi có kỳ hạn bằng VND chiếm 185.250 tỷ đồng. Tính thêm 20%, mẫu số LDR của ngân hàng này lập tức được bổ sung xấp xỉ 37.050 tỷ đồng. |
"Đây chủ yếu là giải pháp tháo gỡ rào cản kỹ thuật nhằm giảm bớt áp lực thanh khoản trong ngắn hạn cho hệ thống." - Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) đánh giá.
Dù là rào cản kỹ thuật, tác động thực tế lên bảng cân đối tài sản của các "ông lớn" quốc doanh lại vô cùng mạnh mẽ. Báo cáo tài chính quý I/2026 cho thấy số dư tiền gửi KBNN tại Vietcombank, BIDV và VietinBank đạt mức khổng lồ 563.036 tỷ đồng, tăng tới 39% so với cuối năm 2025.
Áp dụng công thức mới, cục diện thay đổi lập tức:
Tại Vietcombank: Số dư tiền gửi KBNN cuối quý I đạt 189.159 tỷ đồng, trong đó tiền gửi có kỳ hạn bằng VND chiếm 185.250 tỷ đồng. Tính thêm 20%, mẫu số LDR của ngân hàng này lập tức được bổ sung xấp xỉ 37.050 tỷ đồng.
Tại BIDV: Quy mô tiền gửi có kỳ hạn duy trì ở mức tương đương 185.250 tỷ đồng, tương ứng giá trị bổ sung vào mẫu số LDR khoảng 37.050 tỷ đồng.
Phân tích sâu từ dữ liệu tài chính, nếu áp dụng mức trần LDR 85%, mỗi ngân hàng như Vietcombank hay BIDV bỗng chốc có thêm khoảng 31.500 tỷ đồng dư địa tín dụng lý thuyết. Đối với VietinBank, tác động dự kiến cũng cực kỳ đáng kể nhờ quy mô tiền gửi Kho bạc nắm giữ lên tới hơn 185.000 tỷ đồng.
Hạ nhiệt lãi suất và bài toán hấp thụ vốn
Theo đánh giá từ SSI Research, tác động toàn hệ thống từ Thông tư 08 tương đương khoảng 0,6% dư nợ tín dụng, nhưng riêng nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ được hưởng lợi trực tiếp với mức hỗ trợ tương đương 1,4% đến 2% dư nợ. Công ty Chứng khoán MB (MBS) đồng quan điểm khi khẳng định nhóm ngân hàng Nhà nước sẽ giảm đáng kể áp lực huy động vốn trong ngắn hạn.
Sự nới lỏng kỹ thuật này mang lại kỳ vọng lớn cho nền kinh tế. Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) nhận định, khi áp lực cân đối nguồn vốn giảm bớt, các ngân hàng sẽ có thêm dư địa để hạ nhiệt lãi suất huy động trung và dài hạn, khơi thông nguồn vốn giá rẻ hỗ trợ cho các dự án trọng điểm và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cũng lưu ý dư địa cho vay tăng thêm trên lý thuyết không đồng nghĩa với việc lợi nhuận sẽ phản ánh ngay lập tức. Khả năng bơm vốn ra thị trường trên thực tế còn phụ thuộc chặt chẽ vào hạn mức (room) tín dụng được giao, sức hấp thụ vốn của doanh nghiệp và năng lực quản trị rủi ro của từng ngân hàng trong một chu kỳ kinh tế đầy biến động.