Thị trường tiền tệ đang xuất hiện hai tín hiệu đáng chú ý: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm mạnh thanh khoản ngắn hạn, trong khi lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng lại tăng cao. Diễn biến này cho thấy bài toán vốn cuối quý III không chỉ nằm ở lượng tiền được cung ứng, mà còn ở nhu cầu vốn và chi phí huy động của các tổ chức tín dụng.
Bơm gần 48.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lên 7%
Theo số liệu được công bố mới đây nhất về thị trường tiền tệ ngày 21/9, Ngân hàng Nhà nước đã chào thầu tổng cộng 63.000 tỷ đồng qua kênh cầm cố ở các kỳ hạn 7, 14, 35 và 91 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Các tổ chức tín dụng trúng thầu 57.066 tỷ đồng, trong khi 9.151 tỷ đồng đến hạn.
Tính chung, NHNN bơm ròng 47.915 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở, đưa lượng vốn lưu hành trên kênh cầm cố lên hơn 200.403 tỷ đồng.
![]() |
| Ngân hàng Nhà nước tăng cường hỗ trợ thanh khoản trong lúc lãi suất VND liên ngân hàng bật tăng - (Ảnh minh họa). |
Động thái này diễn ra trong bối cảnh lãi suất VND liên ngân hàng tăng khá mạnh. Ngày 21/9, lãi suất qua đêm lên 7%/năm, tăng 2,5 điểm phần trăm so với phiên trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tháng cũng tăng lên 6,5%/năm; kỳ hạn 2 tuần ở mức 6% và 1 tuần ở mức 4,8%/năm.
NHNN đồng thời mở kênh hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 7 ngày với tổng quy mô tối đa 2 tỷ USD. Nếu sử dụng toàn bộ hạn mức, lượng VND tương ứng theo tỷ giá mua giao ngay 24.406 đồng/USD vào khoảng 48.812 tỷ đồng.
Tuy nhiên, đây là nguồn cung VND có thời hạn, không phải một lượng tiền được đưa vĩnh viễn vào nền kinh tế. Theo cơ chế hoán đổi, ngân hàng nhận VND khi bán USD giao ngay cho NHNN và sẽ mua lại ngoại tệ khi giao dịch đáo hạn sau 7 ngày.
Điều đó cũng lý giải vì sao không nên đồng nhất việc NHNN tăng cung thanh khoản ngắn hạn với một chu kỳ giảm lãi suất mới.
Doanh nghiệp chưa thể kỳ vọng lãi vay giảm ngay
Đối với doanh nghiệp, điều đáng quan tâm không phải chỉ là NHNN bơm bao nhiêu tiền mà là chi phí để ngân hàng có được nguồn vốn và tốc độ truyền dẫn từ thị trường tiền tệ sang lãi suất cho vay.
Trong tháng 8/2026, lãi suất cho vay bình quân theo số liệu NHNN được công bố ở mức khoảng 10,7%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước và cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với các khoản vay giải ngân cách đây một năm.
Mặt bằng này tạo ra một khoảng cách đáng chú ý: thanh khoản ngắn hạn có thể được hỗ trợ để giảm áp lực tức thời cho hệ thống, nhưng lãi suất cho vay doanh nghiệp còn phụ thuộc vào chi phí huy động, kỳ hạn nguồn vốn, chất lượng tín dụng, rủi ro khoản vay và biên lợi nhuận của từng ngân hàng.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên chỉ nhìn vào một phiên NHNN bơm tiền để kỳ vọng chi phí vay sẽ lập tức giảm tương ứng.
Cửa vốn vẫn mở, nhưng doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện
Áp lực chi phí vốn diễn ra trong lúc nhu cầu tín dụng của nền kinh tế vẫn lớn. Báo Điện tử Chính phủ thông tin cho biết đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, hệ thống ngân hàng đang mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến ngày 18/9, 19 ngân hàng đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi với quy mô trên 407.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, điều kiện về minh bạch tài chính, dòng tiền và phương án kinh doanh vẫn là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Điều này cho thấy bài toán của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay có hai mặt. Một mặt, thanh khoản được NHNN hỗ trợ giúp hệ thống ngân hàng có thêm dư địa đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn. Mặt khác, doanh nghiệp vẫn phải cạnh tranh bằng khả năng chứng minh dòng tiền, hiệu quả phương án kinh doanh và năng lực trả nợ để có được khoản vay với điều kiện phù hợp.
Với doanh nghiệp đang chuẩn bị kế hoạch vốn cho những tháng cuối năm, diễn biến lãi suất liên ngân hàng vì thế là một chỉ báo cần theo dõi sát. Nếu áp lực thanh khoản giảm bền vững, chi phí vốn của ngân hàng có thêm dư địa ổn định; nhưng để lãi vay doanh nghiệp giảm thực chất, sự cải thiện đó phải được truyền dẫn qua cả chi phí huy động và chất lượng tín dụng.
Nói cách khác, dòng tiền NHNN đưa ra thị trường có thể giúp hệ thống ngân hàng “dễ thở” hơn trong ngắn hạn. Còn doanh nghiệp có thực sự vay được vốn rẻ hơn hay không vẫn phụ thuộc vào độ bền của thanh khoản, mặt bằng huy động và khả năng hấp thụ vốn của chính nền kinh tế.