Thứ hai 23/03/2026 11:09
Hotline: 024.355.63.010
Kinh tế số

Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số

Hiện nay “chuyển đổi số trong du lịch” đang ngày càng trở nên quen thuộc. Cuộc cách mạng công nghệ số đã và đang tác động mạnh mẽ đối với các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam, trong đó có du lịch. Xu thế công nghệ sẽ làm thay đổi các phương thức quản lý, kinh doanh và tiêu dùng du lịch. Chuyển đổi số ngành du lịch thể hiện qua việc thay đổi cách vận hành truyền thống đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ.

Một loạt các công nghệ mới, ra đời dựa trên nền tảng kết nối và công nghệ số được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống, CMCN 4.0 đã nhanh chóng tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong đó có du lịch. Internet kết nối vạn vật (Internet of thing- IoT) có thể ứng dụng trong dịch vụ lưu trú và ăn uống như: tạo ra các phòng lưu trú thông minh – tự điều chỉnh nhiệt độ, ánh sáng, các trang thiết bị tự động trong phòng; dự đoán bảo trì, bảo dưỡng, phát hiện hỏng hóc của hệ thống các thiết bị phục vụ; theo dõi quản lý thực phẩm tồn kho… Trí tuệ nhân tạo (Artificial intelligence – AI) có thể ứng dụng trong vai trò trợ lý ảo để cung cấp thông tin, chăm sóc khách du lịch, giải quyết phàn nàn, đặt chỗ tự động… để gia tăng chất lượng trải nghiệm và tiết kiệm thời gian cho khách. Dữ liệu lớn tập trung (Big data) có thể ứng dụng trong việc phân tích và lựa chọn thị trường mục tiêu, thậm chí giúp doanh nghiệp cá nhân hoá được từng sản phẩm và dịch vụ du lịch để đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của du khách.

Có thể thấy, những công nghệ mới của CMCN 4.0 ứng dụng trong lĩnh vực du lịch sẽ tạo ra rất nhiều thay đổi trong phương thức quản lý, kinh doanh, tiêu dùng và gắn với những đòi hỏi mới về trình độ, kỹ năng, phẩm chất của nhân lực lao động trong ngành du lịch. CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi nhu cầu và phương thức tiếp cận du lịch của thị trường khách, thay đổi một số vị trí việc làm trong ngành du lịch và làm thay đổi một số tiêu chuẩn nghề nghiệp trong ngành du lịch.

du lịch,chuyển đổi số,CMCN 4,Nguồn nhân lực , đào tạo nguồn nhân lực 3
Ảnh minh họa.

Nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Trong du lịch, chuyển đổi số là thay đổi cách đi du lịch, cách làm du lịch, cách kinh doanh du lịch, cách quản lý du lịch nhờ dữ liệu và công nghệ số. Trong vài năm qua, cụm từ “chuyển đổi số trong du lịch” đã được nhắc đến nhiều hơn và ngày càng nhiều hơn. Sức lan tỏa mạnh mẽ của Công nghiệp 4.0 với sự ra đời của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, blockchain, thực tế ảo (VR)… đang tác động sâu rộng đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Từ đó từng bước thay thế phương thức hoạt động truyền thống sang hoạt động trong môi trường số và ngành du lịch cũng không ngoại lệ.

Nhân lực du lịch là khái niệm chỉ lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch, gồm cả nhân lực trực tiếp và nhân lực gián tiếp. Trong đó, nhân lực trực tiếp là những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch; các đơn vị sự nghiệp du lịch; các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Còn nhân lực gián tiếp là bộ phận nhân lực làm việc trong các ngành, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như văn hóa, hải quan, giao thông, xuất nhập cảnh, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ công cộng, môi trường, bưu chính viễn thông, cộng đồng dân cư,... Điều đó cho thấy, nhân lực du lịch có độ bao phủ tương đối rộng và chất lượng của nó không chỉ tác động và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển du lịch, mà còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển các ngành, các lĩnh vực khác có liên quan. Thế giới đã và đang chuyển mạnh sang kinh tế tri thức và do đó, hàm lượng tri thức trong các sản phẩm du lịch cũng dần chiếm tỷ trọng cao. Để không bị tụt hậu và đáp ứng nhu cầu phát triển, ngành Du lịch của Việt Nam đang cần lực lượng nhân lực có tri thức phong phú và toàn diện hơn cả về kiến thức, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, ngoại ngữ,...

Trên thực tế, các DN du lịch lớn, các khách sạn và resort cao cấp đều áp dụng chuyển đổi số, trong khi phần lớn các DN quy mô vừa và nhỏ lại gặp nhiều khó khăn bởi nhiều nguyên nhân, như: nguồn vốn cạn kiệt, công nghệ thông tin còn yếu. "Bức tranh" chuyển đổi số trong ngành du lịch hiện vẫn đơn lẻ theo kiểu mạnh ai nấy làm và chưa có sự thống nhất. Hiểu được tầm quan trọng sống còn của việc chuyển đổi số, nhưng nhiều DN du lịch vẫn đang loay hoay chưa biết bắt đầu từ đâu và làm như thế nào.

Nhìn chung, quá trình chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành du lịch hiện còn chưa đồng bộ và thống nhất. Những hoạt động số hóa trong ngành còn rời rạc và chưa phát huy tối đa hiệu quả do cơ sở dữ liệu chưa được chia sẻ để kết nối và đồng nhất, dẫn đến quá trình quản lý, kiểm soát, báo cáo thống kê dữ liệu ngành và đưa ra nhận định về xu hướng phát triển gặp nhiều khó khăn.

Cơ hội và thách thức cho nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Cơ hội đối với nguồn nhân lực du lịch

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước đã ban hành các định hướng, cơ chế, chính sách đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo cơ hội để các cơ sở đào tạo du lịch phát triển.

Thứ hai, du lịch Việt Nam đang cần một số lượng nguồn nhân lực lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường du lịch.

Thứ ba, xu thế hội nhập toàn cầu đã tạo điều kiện để nguồn nhân lực du lịch Việt Nam có cơ hội bước vào thị trường du lịch khu vực và quốc tế: Hiện nay, Việt Nam cùng với các nước trong khu vực tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN, việc mở rộng thị trường kinh tế đã tạo cho toàn ngành du lịch Việt Nam có thêm nhiều lợi thế. Hơn thế, khi tham gia thực hiện Thỏa thuận về nghề du lịch ASEAN, du lịch là một trong 12 ngành được ưu tiên hội nhập và là một trong 8 ngành được tự do di chuyển lao động theo thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề trong các nước khu vực ASEAN; điều này tạo điều kiện để nguồn nhân lực du lịch Việt Nam được đào tạo theo yêu cầu chuẩn mực của các nước trong khu vực và quốc tế. Đồng thời, cơ hội này cũng tạo điều kiện để nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao của Việt Nam có thể bước vào hành nghề trong thị trường du lịch của các nước bạn.

Thứ tư, nhân lực du lịch Việt Nam có cơ hội cọ xát và cạnh tranh với các tour du lịch lữ hành quốc tế: Sự tăng trưởng nhiều tour du lịch quốc tế vào Việt Nam đã tạo cơ hội để nhân lực du lịch Việt Nam cạnh tranh, tìm kiếm và học hỏi nhiều kinh nghiệm làm du lịch một cách chuyên nghiệp, bài bản của các nước, trên cơ sở đó nhận diện được những yếu kém của chính mình để tự điều chỉnh, nhằm khắc phục, tránh tụt hậu.

Thứ năm, Việt Nam đang hội nhập sâu và rộng, cơ hội hợp tác đầu tư với nước ngoài tạo điều kiện để nhân lực du lịch Việt Nam được tiếp cận và đào tạo theo chuẩn hóa khu vực và quốc tế. Chính những cơ hội này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam, đáp ứng với yêu cầu chuẩn khu vực và quốc tế.

du lịch,chuyển đổi số,CMCN 4,Nguồn nhân lực , đào tạo nguồn nhân lực 1
Ảnh minh họa.

Những thách thức nguồn nhân lực du lịch Việt Nam đang gặp phải

Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng với yêu cầu của phát triển du lịch bền vững: ngành Du lịch Việt Nam đang thiếu hụt nhiều cán bộ quản lý nhà nước các cấp giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; nhất là nhân lực có tay nghề, có nghiệp vụ đang là bài toán “đau đầu” với ngành du lịch Việt Nam sau đại dịch. Các chính sách: hỗ trợ người lao động gặp khó khăn trong đại dịch, thu hút nhân sự mới, thu hút người lao động quay trở lại làm việc chưa thực sự hiệu quả…

Việt Nam thiếu trầm trọng đội ngũ lao động có kỹ năng và được đào tạo bài bản trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ. Nhân sự trong nhiều khách sạn, nhà hàng và khu du lịch, đặc biệt là ở những khu vực xa thành phố lớn vẫn thiếu chuyên nghiệp, chất lượng kém, chưa đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi cho khách du lịch hạng sang.

Đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp còn thiếu và chuyên môn yếu, đặc biệt là hướng dẫn viên nói được các ngoại ngữ hiếm như Đức, Ý, Tây Ban Nha, Pháp,…

Phát triển du lịch phải song song với đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và cần được thực hiện một cách bài bản ngay từ trong trường, đào tạo gắn với thực tiễn công việc bảo đảm không phải đào tạo lại.

Đứng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, của Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhân lực du lịch tiềm ẩn nguy cơ mất việc làm: (i) Sự phát triển của máy móc và thiết bị tự động hóa có khả năng thay thế con người; (ii) Sự phát triển của internet tạo cơ hội cho sự phát triển của các hình thức đặt tour trực tuyến, tìm kiếm dịch vụ và trải nghiệm các điểm đến du lịch trên các nền tảng số; (iii) Công nghệ IoT, AI… đang tác động mạnh đến cách thức tương tác với sản phẩm của khách du lịch và cả cách thức vận hành của cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch…

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, mỗi năm ngành du lịch cần thêm gần 40.000 lao động nhưng lượng sinh viên, học viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng 15.000 người/năm. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, nguồn nhân lực du lịch phải đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Sinh viên cần được cung cấp cả hiểu biết, kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ thực tế, văn hóa giao tiếp, ngoại ngữ, công nghệ thông tin…

Ngoài ra, cũng tương tự như những lĩnh vực khác, việc chuyển đổi số của ngành du lịch cũng đang đối mặt với không ít khó khăn. Điển hình là, nhiều DN du lịch đối diện với sự thiếu hụt nguồn lực, bao gồm cả nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ hoặc nhân lực. Các DN tiến hành chuyển đổi số sẽ phải áp dụng công nghệ mới dẫn đến vấn đề chi phí đầu tư bước đầu khá lớn. Chi phí đó bao gồm chi phí cho máy móc công nghệ, thay đổi hệ thống quản lý, con người, hệ thống đào tạo.

Để phát triển chuyển đổi số trong du lịch có hiệu quả, các DN, nhất là các DN nhỏ và vừa cần chú trọng xây dựng hệ thống quản trị, vận hành trên nền tảng công nghệ; tận dụng nguồn dữ liệu lớn để phân tích, thấu hiểu khách hàng; tăng cường quảng bá trên các nền tảng số.

Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Đối với ngành Du lịch

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và các cơ chế quản lý về phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, bảo đảm thống nhất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

Có chính sách hỗ trợ, nâng cao năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề du lịch trong cả nước gắn với việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác đào tạo.

Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại cho nguồn nhân lực du lịch nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng về cách mạng công nghệ số với ngành Du lịch định kỳ hàng năm.

Tăng cường các lớp tập huấn, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo về cách mạng công nghệ số với ngành Du lịch cũng là những biện pháp tích cực để nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy cho lực lượng lao động toàn ngành.

Đối với trường đào tạo

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, giảng viên đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, tin học đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trực tiếp phục vụ sự chuyển dịch của nền sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong bối cảnh cách mạng công nghệ số.

Đổi mới chương trình, phương pháp và nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo du lịch trong cả nước để đảm bảo nguồn nhân lực trong tương lai (người học tốt nghiệp) có thể đáp ứng ngay các vị trí việc làm với yêu cầu về trình độ, kỹ năng sử dụng công nghệ trong công việc trong bối cảnh cách mạng công nghệ số.

Phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Điều này tạo điều kiện cho sinh viên có thể tiếp xúc với thực tế ngay khi còn đang học. Đây là cơ hội để sinh viên có được những trải nghiệm, tích lũy kinh nghiệm từ thực tế.

Nội dung đào tạo cũng sẽ tập trung vào mục đích hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực có khả năng ứng dụng những tiến bộ công nghệ để thực hiện việc du lịch thông minh. Điều này nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường tuyển dụng, cần một đội ngũ nhân sự bắm vững các kiến thức và kỹ năng liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh du lịch. Các cơ sở giáo dục đào tạo sẽ lồng ghép thêm nhiều kỹ năng về tin học, truyền thông đa phương tiện để người học có được những kỹ năng thiết yếu trong thời đại mới. Cập nhật thường xuyên các kiến thức mới về du lịch thông minh và công nghệ số, nghiệp vụ thương mại điện tử. Bên cạnh đó, để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường tuyển dụng, cá nhân người học cần phải có ý thức tự trau dồi năng lực ngoại ngữ, tin học và tích cực rèn luyện để có kỹ năng phù hợp với yêu cầu của xã hội thời đại 4.0.

Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch

Tích cực triển khai công nghệ số, đẩy mạnh các loại hình kinh doanh trực tuyến, hình thành và thu hút sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp đối với hệ thống các sàn giao dịch du lịch điện tử.

Cần xây dựng cơ chế lương, thưởng linh hoạt để thu hút, giữ chân và phát huy vai trò nhân lực chất lượng cao làm việc tại doanh nghiệp.

Chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại thông qua việc tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn (cử cán bộ đi học hoặc mời chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực du lịch) để không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực chất lượng cao tại doanh nghiệp.

Có chính sách thích hợp nhằm tạo môi trường học tập thực tế cho sinh viên của các cơ sở đào tạo về du lịch trên địa bàn, cũng như tích cực trong việc hợp tác với các cơ sở đào tạo, nhằm hỗ trợ, tài trợ cho một số dự án đào tạo phát triển nhân lực du lịch tại cơ sở đào tạo

Mỗi người lao động trong ngành cần tích cực học hỏi, nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ - đặc biệt là kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ trong công việc, sẵn sàng tiếp cận và sử dụng công nghệ mới phục vụ công việc của bản thân.

Các cơ sở đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp để có những phương án tối ưu trong tổ chức đào tạo nhằm bù đắp phần nào thiếu hụt trong học tập thông qua thực tế. Cần có chính sách thu hút đội ngũ chuyên gia từ doanh nghiệp để cùng tham gia xây dựng bài giảng trong các học phần đào tạo trực tuyến. Các cơ sở đào tạo cần có nhiều giải pháp phối hợp, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp chuyên cung cấp công nghệ đào tạo trực tuyến và doanh nghiệp có nhu cầu về nhân lực ứng dụng công nghệ trong vận hành.

Kết luận

Trong xu thế chuyển đổi số trong ngành du lịch một cách toàn diện, nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao có ý nghĩa quyết định để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và hội nhập với quốc tế. Thời gian qua, nỗ lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số ở nước ta đạt được những thành tựu quan trọng, đã xây dựng được hệ thống đào tạo nguồn nhân lực từ sơ cấp đến đại học, sau đại học. Đội ngũ nguồn nhân lực được đào tạo đã góp phần quan trọng đưa ngành Du lịch Việt Nam phát triển mạnh trong những năm qua, đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội, đem hình ảnh của Việt Nam ra bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn chuyển đổi số trong ngành Du lịch diễn ra toàn diện và mạnh mẽ, hình thành nhiều lĩnh vực du lịch mới thì nguồn nhân lực du lịch Việt Nam còn bộc lộ những hạn chế. Những giải pháp quan trọng cần thực hiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch với các bên liên quan cần được chú trọng và hỗ trợ từ nhà nước, các tổ chức liên quan, doanh nghiệp du lịch và bản thân nhân lực trong ngành du lịch.

Tin bài khác
Hà Nội: Xử lý dứt điểm dữ liệu để bứt phá khoa học công nghệ

Hà Nội: Xử lý dứt điểm dữ liệu để bứt phá khoa học công nghệ

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tăng tốc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị với yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy kế hoạch sang tư duy sản phẩm, từ báo cáo sang hiệu quả thực chất. Trong đó, bài toán dữ liệu được xác định là “nút thắt của nút thắt”, quyết định trực tiếp đến chất lượng điều hành, năng lực quản trị và hiệu quả phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
Arobid nâng cấp phiên bản 2.0, tham vọng định hình hạ tầng xúc tiến thương mại số

Arobid nâng cấp phiên bản 2.0, tham vọng định hình hạ tầng xúc tiến thương mại số

Đặt trọng tâm vào trí tuệ nhân tạo và dữ liệu, Arobid hướng tới xây dựng một hạ tầng giao thương số quy mô lớn, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường toàn cầu.
Sàng lọc hồ sơ sàn tài sản mã hóa: 5 doanh nghiệp vượt “vòng kỹ thuật”, chờ thẩm định liên ngành

Sàng lọc hồ sơ sàn tài sản mã hóa: 5 doanh nghiệp vượt “vòng kỹ thuật”, chờ thẩm định liên ngành

Bộ Tài chính đã hoàn tất bước rà soát hồ sơ đăng ký thí điểm cung cấp dịch vụ sàn giao dịch tài sản mã hóa, lựa chọn 5/7 hồ sơ đáp ứng yêu cầu để xin ý kiến thẩm định từ các cơ quan liên quan, trước khi quyết định cấp phép chính thức.
TP Hồ Chí Minh ra mắt Sàn giao dịch công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa đổi mới sáng tạo

TP Hồ Chí Minh ra mắt Sàn giao dịch công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa đổi mới sáng tạo

TP Hồ Chí Minh sẽ ra mắt phiên bản mới của Sàn Giao dịch công nghệ TP Hồ Chí Minh (Techport) vào ngày 20/3, hướng tới kết nối cung – cầu công nghệ, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thành phố.
Khai trương nền tảng số phát triển thị trường nước ngoài, tăng tốc hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu

Khai trương nền tảng số phát triển thị trường nước ngoài, tăng tốc hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu

Sáng 12/3, Bộ Công Thương chính thức khai trương Nền tảng số về phát triển thị trường nước ngoài nhằm cung cấp dữ liệu thị trường, kết nối hệ thống thương vụ với doanh nghiệp và địa phương.
Hà Nội mở “không gian sandbox” để thu hút và phát huy nhân tài

Hà Nội mở “không gian sandbox” để thu hút và phát huy nhân tài

Việc triển khai Nghị quyết số 92/2026/NQ-HĐND được kỳ vọng tạo bước đột phá trong chiến lược thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao của Hà Nội, hướng tới xây dựng mô hình “Thủ đô kiến tạo phát triển” với động lực mới từ tri thức và đổi mới sáng tạo.
Hà Nội đẩy nhanh triển khai Nghị quyết 57, đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 22% GRDP năm 2026

Hà Nội đẩy nhanh triển khai Nghị quyết 57, đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 22% GRDP năm 2026

Trong hơn hai tháng đầu năm 2026, Hà Nội đã triển khai hàng loạt nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện thực hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Sách điện tử tăng gần 50% trong năm 2025

Sách điện tử tăng gần 50% trong năm 2025

Thị trường xuất bản số tại Việt Nam tăng trưởng mạnh khi số sách điện tử năm 2025 tăng gần 50%, phản ánh xu hướng chuyển dịch sang mô hình số hóa và mở ra dư địa phát triển lớn cho ngành xuất bản.
Đà Nẵng ứng dụng chuyển đổi số trong tuyên truyền bầu cử

Đà Nẵng ứng dụng chuyển đổi số trong tuyên truyền bầu cử

Không khí chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 tại Đà Nẵng đang diễn ra sôi nổi. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền truyền thống, nhiều địa phương trên địa bàn thành phố đã chủ động ứng dụng chuyển đổi số nhằm đưa thông tin bầu cử đến cử tri nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hà Nội đặt mục tiêu 80% dân số mua sắm trực tuyến vào năm 2030

Hà Nội đặt mục tiêu 80% dân số mua sắm trực tuyến vào năm 2030

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 84/KH-UBND về phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2026–2030, với nhiều mục tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực thương mại, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao năng lực kinh doanh trên nền tảng số của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Hơn 10.000 giao dịch điện tử không dừng trên 5 tuyến cao tốc Bắc - Nam

Hơn 10.000 giao dịch điện tử không dừng trên 5 tuyến cao tốc Bắc - Nam

Từ 22h ngày 2/3, 5 tuyến cao tốc Bắc – Nam chính thức thu phí không dừng. Chỉ sau hơn 10 giờ vận hành, hệ thống ghi nhận hơn 10.000 giao dịch, bảo đảm lưu thông an toàn, ổn định.
Lộ diện Top đầu chuyển đổi số cơ quan Nhà nước Phú Thọ

Lộ diện Top đầu chuyển đổi số cơ quan Nhà nước Phú Thọ

Văn phòng UBND tỉnh dẫn đầu khối sở, ngành; phường Hòa Bình đứng đầu cấp xã trong bảng xếp hạng chuyển đổi số năm 2025 của tỉnh Phú Thọ.
Lào Cai phấn đấu đến năm 2030 phủ sóng 5G tới 90% thôn, bản

Lào Cai phấn đấu đến năm 2030 phủ sóng 5G tới 90% thôn, bản

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch số 44/KH-UBND triển khai Đề án 11 về đẩy mạnh phát triển hạ tầng số, nâng cao tỷ trọng kinh tế số, giai đoạn 2026 – 2030. Đây là một trong 17 đề án trọng tâm nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 35-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nhiệm kỳ 2025 – 2030.
TP. Hồ Chí Minh ứng dụng VNeID, số hóa công tác quản lý cử tri phục vụ bầu cử

TP. Hồ Chí Minh ứng dụng VNeID, số hóa công tác quản lý cử tri phục vụ bầu cử

TP. Hồ Chí Minh triển khai phần mềm quản lý cử tri, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng định danh điện tử VNeID nhằm bảo đảm công tác lập danh sách cử tri chính xác, minh bạch, phục vụ hiệu quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND Thành phố nhiệm kỳ 2026–2031.
Hà Nội ra mắt sàn giao dịch công nghệ và “chợ” chuyển đổi số

Hà Nội ra mắt sàn giao dịch công nghệ và “chợ” chuyển đổi số

Hà Nội ra mắt Sàn Giao dịch công nghệ HanoTEX và Chợ Chuyển đổi số DTMarket theo mô hình công – tư, kết nối viện trường – doanh nghiệp – thị trường, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và phát triển kinh tế số.