| Đà Nẵng hướng tới trung tâm logistics, kinh tế biển và tài chính khu vực Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng: Sửa đổi ba luật lớn tạo đột phá quản lý tài nguyên môi trường |
Với đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn cùng hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, Việt Nam sở hữu lợi thế hiếm có để phát triển kinh tế biển. Không chỉ là nguồn tài nguyên phong phú, biển còn đóng vai trò như một động lực tăng trưởng chiến lược, mở ra không gian phát triển mới cho nhiều địa phương ven biển.
Thực tế cho thấy, nhiều tỉnh, thành đã chủ động chuyển mình để khai thác hiệu quả tiềm năng này. Ninh Bình là một ví dụ điển hình khi đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh tế biển và ven biển lên hơn 20% GRDP vào năm 2030. Địa phương này đang đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, phát triển chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng. Những vùng bãi triều rộng, điều kiện tự nhiên thuận lợi đã trở thành trung tâm sản xuất thủy sản quy mô lớn, cung ứng hàng trăm nghìn tấn sản phẩm mỗi năm.
Không chỉ dừng lại ở sản xuất, các địa phương còn chú trọng đầu tư hạ tầng đồng bộ như cảng cá, hệ thống logistics và giao thông kết nối. Đây được xem là “đòn bẩy” quan trọng giúp nâng cao giá trị chuỗi cung ứng, giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm biển.
Trong khi đó, tại Quảng Ninh, khu vực Vân Đồn đã và đang khẳng định vai trò là trung tâm kinh tế biển đa ngành. Từ một vùng còn nhiều khó khăn, nơi đây đã vươn lên trở thành điểm sáng về thu hút đầu tư và phát triển dịch vụ, du lịch biển. Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh, cùng với dòng vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng, cho thấy sức hút lớn của mô hình phát triển kinh tế biển hiện đại.
Điểm chung của các địa phương thành công là đã chuyển từ tư duy khai thác đơn lẻ sang phát triển tổng hợp, đa ngành. Kinh tế biển không còn chỉ là đánh bắt hay nuôi trồng, mà đã mở rộng sang logistics, du lịch, năng lượng tái tạo và công nghiệp phụ trợ. Chính sự liên kết này giúp tối ưu hóa nguồn lực, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả khai thác.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội là không ít thách thức. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và suy giảm tài nguyên đang tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân ven biển. Ngoài ra, việc thiếu đồng bộ trong quy hoạch và quản lý cũng khiến nhiều tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình phát triển theo hướng bền vững hơn.
![]() |
| Khai mở tiềm năng biển Việt Nam bằng thể chế và công nghệ hiện đại bền vững (Ảnh: Minh hoạ) |
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, biển, đảo Việt Nam không chỉ là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà còn là môi trường sinh tồn, phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam. Bởi không gian biển lớn gấp 3 lần đất liền, các địa phương có biển phải đẩy mạnh khai thác tiềm năng biển tạo dư địa để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới. Việc khai thác tiềm năng kinh tế biển, làm giàu từ biển, vươn khơi bám biển cũng là cách để chúng ta giữ biển, giữ chủ quyền quốc gia.
Ông Nguyễn Thanh Nghị cho biết, các nhiệm vụ trọng tâm được xác định bao gồm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và tập trung mọi nguồn lực cho kinh tế biển. Đặc biệt, việc đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (Nghị quyết 57-NQ/TW) và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là những yếu tố then chốt. Các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, cung cấp dữ liệu đầy đủ cho Ban Chính sách, chiến lược Trung ương để hoàn thiện đề án trình Bộ Chính trị, đảm bảo thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển mà Nghị quyết đã đề ra.
Để kinh tế biển thực sự trở thành trụ cột tăng trưởng, yếu tố then chốt nằm ở việc hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược quan trọng nhằm định hướng phát triển dài hạn, đặc biệt là chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững và quy hoạch không gian biển quốc gia.
Các chính sách này không chỉ tạo hành lang pháp lý rõ ràng mà còn mở ra cơ hội thu hút đầu tư, nhất là từ khu vực tư nhân và các tổ chức quốc tế. Những cơ chế tài chính xanh như quỹ đầu tư xanh, trái phiếu xanh hay hợp tác công – tư đang trở thành công cụ hữu hiệu để huy động nguồn lực cho các dự án lớn.
Song song với đó, chuyển đổi số được xem là “chìa khóa” để nâng cao hiệu quả quản lý biển. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa các cơ quan giúp giảm thiểu thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch và hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng. Các công nghệ quan trắc từ xa, hệ thống giám sát hiện đại cũng góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó kịp thời với các sự cố trên biển.
Một trong những điểm đột phá được đề xuất là cơ chế “một cửa liên thông” trong quản lý tài nguyên biển. Thay vì phải thực hiện nhiều thủ tục riêng lẻ, doanh nghiệp và người dân có thể tiếp cận dịch vụ thông qua một đầu mối duy nhất. Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn giảm chi phí, tạo môi trường thuận lợi hơn cho đầu tư.
Bên cạnh công nghệ, yếu tố con người cũng đóng vai trò quan trọng. Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với xu hướng kinh tế xanh và chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết. Đây chính là nền tảng để Việt Nam không chỉ khai thác tốt tài nguyên biển mà còn nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất.
Ngoài ra, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính đồng bộ trong quản lý. Kinh tế biển vốn mang tính liên ngành cao, liên quan đến nhiều lĩnh vực như hàng hải, du lịch, năng lượng, môi trường. Nếu thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả, rất dễ xảy ra xung đột lợi ích và lãng phí nguồn lực.
Nhìn về dài hạn, kinh tế biển Việt Nam có 6 trụ cột chính gồm hàng hải, du lịch, dầu khí, thủy sản, logistics và khai thác thềm lục địa. Việc phát triển đồng bộ các lĩnh vực này, gắn với bảo vệ môi trường và chủ quyền quốc gia, sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng xanh, việc phát triển kinh tế biển bền vững không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu. Khi thể chế được hoàn thiện, công nghệ được ứng dụng sâu rộng và nguồn lực được phân bổ hợp lý, biển sẽ thực sự trở thành “mỏ vàng xanh” của Việt Nam trong tương lai.
Tận dụng tốt cơ hội này không chỉ giúp nâng cao vị thế kinh tế mà còn góp phần bảo vệ chủ quyền, đảm bảo an ninh quốc gia và cải thiện đời sống cho hàng triệu người dân ven biển. Đây chính là con đường để Việt Nam vươn ra biển lớn một cách vững chắc và dài lâu.