Thứ hai 21/09/2026 14:17
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

119.000 doanh nghiệp quay lại thị trường: Tín hiệu phục hồi hay áp lực mưu sinh?

Hơn 119.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường trong 4 tháng đầu 2026, nhưng liệu đây là tín hiệu phục hồi kinh tế hay áp lực mưu sinh gia tăng?

Bốn tháng đầu năm 2026, bức tranh doanh nghiệp Việt Nam phát đi một tín hiệu tưởng tích cực. Hơn 119.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ. Trong đó có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn gần 785.400 tỷ đồng, tăng 50,7% về số doanh nghiệp và 60,1% về vốn; thêm 41.600 doanh nghiệp quay lại hoạt động, tăng 8,6%.

Bình quân mỗi tháng, nền kinh tế đón gần 29.900 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 1,9 triệu tỷ đồng.

Đây là một chỉ báo tích cực, sau giai đoạn nhiều doanh nghiệp co cụm, trì hoãn đầu tư, thậm chí rời bỏ thị trường, việc dòng vốn đăng ký tăng mạnh cho thấy một bộ phận nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp bắt đầu nhìn thấy cơ hội mới. Nhưng nếu chỉ đọc con số 119.000 như một lời khẳng định rằng niềm tin kinh doanh đã phục hồi, rất có thể chúng ta đang đứng trước một ‘ảo giác số lượng’.

Biểu đồ: Dòng chảy “vào – ra” của doanh nghiệp Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với số doanh nghiệp gia nhập gần tương đương số rút lui. Nguồn: Cục Thống kê.
Biểu đồ: Dòng chảy “vào – ra” của doanh nghiệp Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với số doanh nghiệp gia nhập gần tương đương số rút lui. Nguồn: Cục Thống kê - Bộ Tài Chính.

Bởi cùng thời gian đó, nền kinh tế cũng ghi nhận 72.200 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 21.500 doanh nghiệp chờ giải thể và gần 15.200 doanh nghiệp hoàn tất giải thể; bình quân mỗi tháng có khoảng 27.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Nghĩa là cứ gần 29.900 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay lại, lại có khoảng 27.200 doanh nghiệp rời đi. Cán cân vẫn dương, nhưng khoảng cách không quá rộng.

Điều đáng nói hơn là số doanh nghiệp thành lập mới tăng 50,7%, vốn đăng ký tăng 60,1%, nhưng lao động đăng ký chỉ tăng 0,3%. Nếu doanh nghiệp mới tăng mạnh mà lao động gần như không tăng, phải chăng một phần đáng kể trong làn sóng gia nhập thị trường đang là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp một vài người, hoặc mô hình kinh doanh dựa nhiều vào nền tảng số, thuê ngoài, tự động hóa và vận hành tinh gọn?

Ở các nền kinh tế phát triển, số doanh nghiệp mới không bao giờ được đọc đơn độc. World Bank khi phân tích dữ liệu khởi nghiệp toàn cầu, chuyên gia Homi Kharas nhấn mạnh rằng đăng ký kinh doanh là thước đo quan trọng của khu vực chính thức, nhưng cần nhìn trong tương quan với chất lượng thể chế, năng lực thực thi chính sách và khả năng doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động. Cơ sở dữ liệu Entrepreneurship Database của World Bank đo “mật độ doanh nghiệp mới” theo số công ty trách nhiệm hữu hạn đăng ký mới trên 1.000 người trong độ tuổi lao động, nhằm so sánh sức sống khu vực tư nhân giữa các quốc gia.

Homi Kharas – Brookings Institution, nguyên Kinh tế trưởng World Bank khu vực Đông Á, chuyên gia về bẫy thu nhập trung bình và chất lượng tăng trưởng.
Homi Kharas – Brookings Institution, nguyên Kinh tế trưởng World Bank khu vực Đông Á, chuyên gia, nổi tiếng về khái niệm "bẫy thu nhập trung bình" và chất lượng tăng trưởng.

Từ góc nhìn đó, câu hỏi lớn với Việt Nam không chỉ là “có bao nhiêu doanh nghiệp mới”, mà là “bao nhiêu doanh nghiệp trong số đó sẽ sống được sau 12–24 tháng, tạo việc làm thật, nộp thuế thật, mở rộng thị trường thật và nâng năng suất thật?”. Ở Mỹ, Kauffman Indicators of Entrepreneurship không chỉ đo tỷ lệ người bắt đầu kinh doanh, mà còn đo “opportunity share” – tỷ lệ doanh nhân khởi nghiệp vì cơ hội thay vì thất nghiệp, cùng tỷ lệ sống sót ban đầu của startup. Theo Kauffman, năm 2021, khoảng 80,9% doanh nhân mới tại Mỹ thuộc nhóm khởi nghiệp vì cơ hội; tỷ lệ sống sót sau một năm của cơ sở kinh doanh mới là 81,7%.

Đó là một gợi ý quan trọng cho Việt Nam: một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp mới chưa chắc đã khỏe, nếu phần lớn doanh nghiệp được lập ra vì người lao động mất việc, thu nhập bấp bênh, buộc phải tự kinh doanh để mưu sinh. Trong trường hợp đó, đăng ký kinh doanh tăng có thể phản ánh sức chống chịu của người dân, nhưng chưa chắc phản ánh chất lượng phục hồi của nền kinh tế.

Đây cũng là điểm mà Dự án nghiên cứu toàn cầu về khởi nghiệp (Global Entrepreneurship Monitor - GEM) thường phân biệt rất rõ: khởi nghiệp vì cơ hội và khởi nghiệp vì nhu cầu sinh tồn là hai trạng thái khác nhau. Một người mở doanh nghiệp vì nhìn thấy thị trường mới, công nghệ mới, mô hình mới sẽ có hành vi đầu tư, quản trị và tăng trưởng khác với một người mở hộ kinh doanh hoặc công ty nhỏ vì mất nguồn thu nhập ổn định. GEM 2024/2025 tiếp tục được dùng như một bộ chỉ báo quốc tế để đánh giá thực chất động lực khởi nghiệp giữa các quốc gia, thay vì chỉ nhìn vào số lượng đăng ký.

Với Việt Nam, sự tăng mạnh của nhóm doanh nghiệp dịch vụ cũng cần được tư duy sâu sắc. Bốn tháng đầu năm, khu vực dịch vụ có gần 58.100 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 48,7%; công nghiệp và xây dựng có 18.900 doanh nghiệp, tăng 56,6%; nông, lâm nghiệp và thủy sản có 827 doanh nghiệp, tăng 66,7%. Dịch vụ dẫn đầu là điều dễ hiểu trong nền kinh tế đô thị hóa, số hóa và tiêu dùng ngày càng đa dạng. Nhưng nếu phần lớn doanh nghiệp mới tập trung vào thương mại, dịch vụ nhỏ, bán lẻ, ăn uống, môi giới, tư vấn ngắn hạn, thì sức lan tỏa về năng suất, công nghệ và xuất khẩu có thể không lớn như kỳ vọng.

"Việc quay lại kinh doanh lúc này không phải là tín hiệu tự tin, mà là phản ứng sinh tồn. Thị trường chưa thực sự hồi phục, nhưng áp lực chi phí, nhân sự và dòng tiền buộc chúng tôi phải mở lại, dù biết rủi ro vẫn còn rất lớn.” – Anh Phạm Văn Hoàng, chủ một doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại cho biết.

World Bank trong phần cập nhật về Việt Nam lưu ý rằng nền kinh tế đang đối mặt đồng thời nhiều thách thức: già hóa dân số, dịch chuyển thương mại toàn cầu, tự động hóa nhanh và rủi ro khí hậu. Để duy trì tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tăng cường thể chế, cải thiện năng lực thực thi chính sách, mở rộng tiếp cận tài chính và công nghệ cho SME, đồng thời nâng chất lượng nguồn nhân lực.

Nhìn từ khuyến nghị đó, con số 119.000 doanh nghiệp nên được xem là “điểm mở đầu của một cuộc kiểm tra sức khỏe”, chưa phải “giấy chứng nhận phục hồi”. Doanh nghiệp có quay lại thị trường thật hay chỉ quay lại trên giấy? Vốn đăng ký có được giải ngân thành nhà xưởng, nhân sự, công nghệ, hàng hóa, hợp đồng hay chỉ là kỳ vọng? Doanh nghiệp mới có đủ năng lực tuân thủ thuế, hóa đơn, bảo hiểm, phòng cháy chữa cháy, môi trường, dữ liệu, thương mại điện tử hay không? Nếu thủ tục gia nhập dễ hơn nhưng chi phí tồn tại vẫn cao, làn sóng doanh nghiệp mới có thể nhanh chóng chuyển thành làn sóng tạm ngừng mới.

Ở nhiều nền kinh tế phát triển, bài học không nằm ở việc cổ vũ “càng nhiều doanh nghiệp càng tốt”, mà ở việc tạo hệ sinh thái để doanh nghiệp nhỏ lớn lên. OECD nhấn mạnh SME giữ vai trò trung tâm trong việc tạo việc làm, đổi mới và bao trùm xã hội; tuy nhiên, SME thường bị hạn chế bởi khả năng tiếp cận tài chính, công nghệ, dữ liệu, kỹ năng và mạng lưới kinh doanh.

Vì vậy, với Việt Nam, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn tới cần những hành động thiết thực hơn. Điều doanh nghiệp nhỏ cần là những cơ chế cầm tay chỉ việc: nơi hỏi được, nơi được hướng dẫn hồ sơ thật, nơi biết chính sách ưu đãi nào áp dụng cho mình, nơi có phản hồi rõ ràng thay vì tự đọc thông tư, tự làm công văn rồi chờ đợi trong mơ hồ. Một doanh nghiệp siêu nhỏ không thiếu khát vọng; họ thiếu thời gian, nhân sự pháp lý, năng lực kế toán, khả năng đọc chính sách và chi phí để thử sai.

Con số doanh nghiệp quay lại thị trường cũng có một chiều sâu tâm lý kinh tế rất đáng chú ý. Một chủ doanh nghiệp quay lại không nhất thiết vì thị trường đã dễ hơn; đôi khi vì họ không còn lựa chọn nào khác. Khi việc làm biến động, đơn hàng không ổn định, thu nhập gia đình chịu áp lực, nhiều người sẽ chọn mở lại cửa hàng, lập công ty, bán hàng online, làm dịch vụ nhỏ. Đó là năng lượng sinh tồn rất đáng trân trọng, nhưng nếu thiếu môi trường nâng đỡ, năng lượng ấy dễ bị bào mòn bởi chi phí vốn, sức mua yếu, cạnh tranh giá rẻ, nghĩa vụ tuân thủ và rủi ro pháp lý.

Vì thế, “119.000 doanh nghiệp có phải tin vui không?”. Có, đó là tin vui. Nhưng tin vui này mới chỉ là phần đầu của câu chuyện. Phần sau quan trọng hơn, sau 12 tháng, bao nhiêu doanh nghiệp còn hoạt động? Sau 24 tháng, bao nhiêu doanh nghiệp có doanh thu tăng? Bao nhiêu doanh nghiệp tuyển thêm lao động? Bao nhiêu doanh nghiệp tiếp cận được vốn chính thức? Bao nhiêu doanh nghiệp chuyển từ kinh doanh tự phát sang quản trị bài bản? Bao nhiêu doanh nghiệp đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng của FDI, xuất khẩu hoặc kinh tế số?

Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, nền kinh tế có thể rất dễ rơi vào trạng thái “đông doanh nghiệp nhưng ít doanh nghiệp mạnh”. Khi ấy, số lượng tăng tạo cảm giác phục hồi, nhưng chất lượng doanh nghiệp không đủ để kéo năng suất, tiền lương và năng lực cạnh tranh quốc gia đi lên.

Doanh nghiệp quay lại thị trường: Niềm tin đang phục hồi hay áp lực mưu sinh đang tăng?
Doanh nghiệp quay lại thị trường: Niềm tin đang phục hồi hay áp lực mưu sinh đang tăng?

Ở góc nhìn quản trị, TS. Nguyễn Thúy Lan, Khoa Quản trị, Đại học Công nghệ Giao thông vận tải cho biết: “Vấn đề của Việt Nam trong giai đoạn tới không phải là thiếu tinh thần kinh doanh. Ngược lại, người Việt có khả năng xoay xở, thích ứng và tự tạo sinh kế rất mạnh. Điều còn thiếu là một hạ tầng thể chế đủ thân thiện để tinh thần ấy không bị tiêu hao vào thủ tục, chi phí vốn, sự bất định chính sách và những rào cản tuân thủ vượt quá sức của doanh nghiệp nhỏ”.

119.000 doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường, vì thế, nên được đọc như một tín hiệu kép. Một mặt, đó là niềm tin đang nhúc nhích trở lại. Mặt khác, đó cũng có thể là tiếng gõ cửa của một tầng lớp doanh nhân nhỏ đang cần được nâng đỡ thực chất hơn. Chính sách tốt không chỉ làm doanh nghiệp đăng ký dễ hơn, mà phải giúp họ sống sót lâu hơn, lớn lên lành mạnh hơn và bước ra khỏi vòng luẩn quẩn “mở ra – đóng lại – mở lại”.

Một nền kinh tế mạnh không được đo bằng số giấy đăng ký kinh doanh được cấp trong bốn tháng mà được đo bằng số doanh nghiệp đủ sức đi qua hai năm đầu tiên, tồn tại và tạo giá trị thật. Khi ấy, con số 119.000 mới không còn là “ảo giác số lượng”, mà trở thành chỉ dấu của một chu kỳ phục hồi có nền móng.

Tin bài khác
TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

Tại Kỳ họp thứ 5 (Kỳ họp chuyên đề)HĐND thành phố yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, ngân sách và đất đai được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng không gian và tạo động lực phát triển mới cho thành phố.
Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Việc Việt Nam được dự báo vượt mốc 2.000 tỷ USD GDP tính theo sức mua tương đương (PPP), vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á và lọt nhóm 22 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy quy mô thị trường và sức nặng của nền kinh tế đang gia tăng. Tuy nhiên, phía sau cột mốc đáng chú ý ấy còn là bài toán về năng suất, thu nhập bình quân đầu người và chất lượng tăng trưởng.
Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Dư nợ tín dụng đã vượt 20 triệu tỷ đồng, nhưng nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn lớn hơn nhiều. Khi các dự án hạ tầng, đô thị và sản xuất cần nguồn vốn trung, dài hạn, nền kinh tế phải mở thêm những kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đề xuất việc công nhận khu kinh tế đặc biệt được thực hiện theo cơ chế đánh giá hai bước: địa bàn phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện đầu vào, sau đó đạt từ 90/100 điểm theo 5 nhóm tiêu chí mới được xem xét công nhận.
Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Trước những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu, Diễn đàn Phòng vệ thương mại 2026 tại Hải Phòng đặt trọng tâm vào nâng năng lực sản xuất, cảnh báo sớm rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả.
Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Bộ Tài chính đang đẩy mạnh tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Nguyễn Văn Thân đề xuất một loạt giải pháp nhằm mở rộng chủ thể cung ứng vốn, khai thác dòng tiền và các tài sản hình thành trong quá trình kinh doanh.
Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa đang phục hồi tích cực nhưng cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về phân phối, logistics và sức cạnh tranh để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

Điều lệ mới xác lập cơ chế tổ chức và hoạt động của Liên minh Hợp tác xã TP. Hồ Chí Minh sau hợp nhất, đồng thời mở rộng không gian hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn Thành phố.
Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Từ cao tốc, nguồn vật liệu đến các dự án nhiệt điện và chuỗi khí Lô B - Ô Môn, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu tăng tốc đồng loạt để không làm chậm nhịp phát triển hạ tầng và năng lượng của vùng.