Thứ sáu 07/08/2026 03:23
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

119.000 doanh nghiệp quay lại thị trường: Tín hiệu phục hồi hay áp lực mưu sinh?

Hơn 119.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường trong 4 tháng đầu 2026, nhưng liệu đây là tín hiệu phục hồi kinh tế hay áp lực mưu sinh gia tăng?

Bốn tháng đầu năm 2026, bức tranh doanh nghiệp Việt Nam phát đi một tín hiệu tưởng tích cực. Hơn 119.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ. Trong đó có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn gần 785.400 tỷ đồng, tăng 50,7% về số doanh nghiệp và 60,1% về vốn; thêm 41.600 doanh nghiệp quay lại hoạt động, tăng 8,6%.

Bình quân mỗi tháng, nền kinh tế đón gần 29.900 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 1,9 triệu tỷ đồng.

Đây là một chỉ báo tích cực, sau giai đoạn nhiều doanh nghiệp co cụm, trì hoãn đầu tư, thậm chí rời bỏ thị trường, việc dòng vốn đăng ký tăng mạnh cho thấy một bộ phận nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp bắt đầu nhìn thấy cơ hội mới. Nhưng nếu chỉ đọc con số 119.000 như một lời khẳng định rằng niềm tin kinh doanh đã phục hồi, rất có thể chúng ta đang đứng trước một ‘ảo giác số lượng’.

Biểu đồ: Dòng chảy “vào – ra” của doanh nghiệp Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với số doanh nghiệp gia nhập gần tương đương số rút lui. Nguồn: Cục Thống kê.
Biểu đồ: Dòng chảy “vào – ra” của doanh nghiệp Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với số doanh nghiệp gia nhập gần tương đương số rút lui. Nguồn: Cục Thống kê - Bộ Tài Chính.

Bởi cùng thời gian đó, nền kinh tế cũng ghi nhận 72.200 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 21.500 doanh nghiệp chờ giải thể và gần 15.200 doanh nghiệp hoàn tất giải thể; bình quân mỗi tháng có khoảng 27.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Nghĩa là cứ gần 29.900 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay lại, lại có khoảng 27.200 doanh nghiệp rời đi. Cán cân vẫn dương, nhưng khoảng cách không quá rộng.

Điều đáng nói hơn là số doanh nghiệp thành lập mới tăng 50,7%, vốn đăng ký tăng 60,1%, nhưng lao động đăng ký chỉ tăng 0,3%. Nếu doanh nghiệp mới tăng mạnh mà lao động gần như không tăng, phải chăng một phần đáng kể trong làn sóng gia nhập thị trường đang là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp một vài người, hoặc mô hình kinh doanh dựa nhiều vào nền tảng số, thuê ngoài, tự động hóa và vận hành tinh gọn?

Ở các nền kinh tế phát triển, số doanh nghiệp mới không bao giờ được đọc đơn độc. World Bank khi phân tích dữ liệu khởi nghiệp toàn cầu, chuyên gia Homi Kharas nhấn mạnh rằng đăng ký kinh doanh là thước đo quan trọng của khu vực chính thức, nhưng cần nhìn trong tương quan với chất lượng thể chế, năng lực thực thi chính sách và khả năng doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động. Cơ sở dữ liệu Entrepreneurship Database của World Bank đo “mật độ doanh nghiệp mới” theo số công ty trách nhiệm hữu hạn đăng ký mới trên 1.000 người trong độ tuổi lao động, nhằm so sánh sức sống khu vực tư nhân giữa các quốc gia.

Homi Kharas – Brookings Institution, nguyên Kinh tế trưởng World Bank khu vực Đông Á, chuyên gia về bẫy thu nhập trung bình và chất lượng tăng trưởng.
Homi Kharas – Brookings Institution, nguyên Kinh tế trưởng World Bank khu vực Đông Á, chuyên gia, nổi tiếng về khái niệm "bẫy thu nhập trung bình" và chất lượng tăng trưởng.

Từ góc nhìn đó, câu hỏi lớn với Việt Nam không chỉ là “có bao nhiêu doanh nghiệp mới”, mà là “bao nhiêu doanh nghiệp trong số đó sẽ sống được sau 12–24 tháng, tạo việc làm thật, nộp thuế thật, mở rộng thị trường thật và nâng năng suất thật?”. Ở Mỹ, Kauffman Indicators of Entrepreneurship không chỉ đo tỷ lệ người bắt đầu kinh doanh, mà còn đo “opportunity share” – tỷ lệ doanh nhân khởi nghiệp vì cơ hội thay vì thất nghiệp, cùng tỷ lệ sống sót ban đầu của startup. Theo Kauffman, năm 2021, khoảng 80,9% doanh nhân mới tại Mỹ thuộc nhóm khởi nghiệp vì cơ hội; tỷ lệ sống sót sau một năm của cơ sở kinh doanh mới là 81,7%.

Đó là một gợi ý quan trọng cho Việt Nam: một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp mới chưa chắc đã khỏe, nếu phần lớn doanh nghiệp được lập ra vì người lao động mất việc, thu nhập bấp bênh, buộc phải tự kinh doanh để mưu sinh. Trong trường hợp đó, đăng ký kinh doanh tăng có thể phản ánh sức chống chịu của người dân, nhưng chưa chắc phản ánh chất lượng phục hồi của nền kinh tế.

Đây cũng là điểm mà Dự án nghiên cứu toàn cầu về khởi nghiệp (Global Entrepreneurship Monitor - GEM) thường phân biệt rất rõ: khởi nghiệp vì cơ hội và khởi nghiệp vì nhu cầu sinh tồn là hai trạng thái khác nhau. Một người mở doanh nghiệp vì nhìn thấy thị trường mới, công nghệ mới, mô hình mới sẽ có hành vi đầu tư, quản trị và tăng trưởng khác với một người mở hộ kinh doanh hoặc công ty nhỏ vì mất nguồn thu nhập ổn định. GEM 2024/2025 tiếp tục được dùng như một bộ chỉ báo quốc tế để đánh giá thực chất động lực khởi nghiệp giữa các quốc gia, thay vì chỉ nhìn vào số lượng đăng ký.

Với Việt Nam, sự tăng mạnh của nhóm doanh nghiệp dịch vụ cũng cần được tư duy sâu sắc. Bốn tháng đầu năm, khu vực dịch vụ có gần 58.100 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 48,7%; công nghiệp và xây dựng có 18.900 doanh nghiệp, tăng 56,6%; nông, lâm nghiệp và thủy sản có 827 doanh nghiệp, tăng 66,7%. Dịch vụ dẫn đầu là điều dễ hiểu trong nền kinh tế đô thị hóa, số hóa và tiêu dùng ngày càng đa dạng. Nhưng nếu phần lớn doanh nghiệp mới tập trung vào thương mại, dịch vụ nhỏ, bán lẻ, ăn uống, môi giới, tư vấn ngắn hạn, thì sức lan tỏa về năng suất, công nghệ và xuất khẩu có thể không lớn như kỳ vọng.

"Việc quay lại kinh doanh lúc này không phải là tín hiệu tự tin, mà là phản ứng sinh tồn. Thị trường chưa thực sự hồi phục, nhưng áp lực chi phí, nhân sự và dòng tiền buộc chúng tôi phải mở lại, dù biết rủi ro vẫn còn rất lớn.” – Anh Phạm Văn Hoàng, chủ một doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại cho biết.

World Bank trong phần cập nhật về Việt Nam lưu ý rằng nền kinh tế đang đối mặt đồng thời nhiều thách thức: già hóa dân số, dịch chuyển thương mại toàn cầu, tự động hóa nhanh và rủi ro khí hậu. Để duy trì tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tăng cường thể chế, cải thiện năng lực thực thi chính sách, mở rộng tiếp cận tài chính và công nghệ cho SME, đồng thời nâng chất lượng nguồn nhân lực.

Nhìn từ khuyến nghị đó, con số 119.000 doanh nghiệp nên được xem là “điểm mở đầu của một cuộc kiểm tra sức khỏe”, chưa phải “giấy chứng nhận phục hồi”. Doanh nghiệp có quay lại thị trường thật hay chỉ quay lại trên giấy? Vốn đăng ký có được giải ngân thành nhà xưởng, nhân sự, công nghệ, hàng hóa, hợp đồng hay chỉ là kỳ vọng? Doanh nghiệp mới có đủ năng lực tuân thủ thuế, hóa đơn, bảo hiểm, phòng cháy chữa cháy, môi trường, dữ liệu, thương mại điện tử hay không? Nếu thủ tục gia nhập dễ hơn nhưng chi phí tồn tại vẫn cao, làn sóng doanh nghiệp mới có thể nhanh chóng chuyển thành làn sóng tạm ngừng mới.

Ở nhiều nền kinh tế phát triển, bài học không nằm ở việc cổ vũ “càng nhiều doanh nghiệp càng tốt”, mà ở việc tạo hệ sinh thái để doanh nghiệp nhỏ lớn lên. OECD nhấn mạnh SME giữ vai trò trung tâm trong việc tạo việc làm, đổi mới và bao trùm xã hội; tuy nhiên, SME thường bị hạn chế bởi khả năng tiếp cận tài chính, công nghệ, dữ liệu, kỹ năng và mạng lưới kinh doanh.

Vì vậy, với Việt Nam, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn tới cần những hành động thiết thực hơn. Điều doanh nghiệp nhỏ cần là những cơ chế cầm tay chỉ việc: nơi hỏi được, nơi được hướng dẫn hồ sơ thật, nơi biết chính sách ưu đãi nào áp dụng cho mình, nơi có phản hồi rõ ràng thay vì tự đọc thông tư, tự làm công văn rồi chờ đợi trong mơ hồ. Một doanh nghiệp siêu nhỏ không thiếu khát vọng; họ thiếu thời gian, nhân sự pháp lý, năng lực kế toán, khả năng đọc chính sách và chi phí để thử sai.

Con số doanh nghiệp quay lại thị trường cũng có một chiều sâu tâm lý kinh tế rất đáng chú ý. Một chủ doanh nghiệp quay lại không nhất thiết vì thị trường đã dễ hơn; đôi khi vì họ không còn lựa chọn nào khác. Khi việc làm biến động, đơn hàng không ổn định, thu nhập gia đình chịu áp lực, nhiều người sẽ chọn mở lại cửa hàng, lập công ty, bán hàng online, làm dịch vụ nhỏ. Đó là năng lượng sinh tồn rất đáng trân trọng, nhưng nếu thiếu môi trường nâng đỡ, năng lượng ấy dễ bị bào mòn bởi chi phí vốn, sức mua yếu, cạnh tranh giá rẻ, nghĩa vụ tuân thủ và rủi ro pháp lý.

Vì thế, “119.000 doanh nghiệp có phải tin vui không?”. Có, đó là tin vui. Nhưng tin vui này mới chỉ là phần đầu của câu chuyện. Phần sau quan trọng hơn, sau 12 tháng, bao nhiêu doanh nghiệp còn hoạt động? Sau 24 tháng, bao nhiêu doanh nghiệp có doanh thu tăng? Bao nhiêu doanh nghiệp tuyển thêm lao động? Bao nhiêu doanh nghiệp tiếp cận được vốn chính thức? Bao nhiêu doanh nghiệp chuyển từ kinh doanh tự phát sang quản trị bài bản? Bao nhiêu doanh nghiệp đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng của FDI, xuất khẩu hoặc kinh tế số?

Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, nền kinh tế có thể rất dễ rơi vào trạng thái “đông doanh nghiệp nhưng ít doanh nghiệp mạnh”. Khi ấy, số lượng tăng tạo cảm giác phục hồi, nhưng chất lượng doanh nghiệp không đủ để kéo năng suất, tiền lương và năng lực cạnh tranh quốc gia đi lên.

Doanh nghiệp quay lại thị trường: Niềm tin đang phục hồi hay áp lực mưu sinh đang tăng?
Doanh nghiệp quay lại thị trường: Niềm tin đang phục hồi hay áp lực mưu sinh đang tăng?

Ở góc nhìn quản trị, TS. Nguyễn Thúy Lan, Khoa Quản trị, Đại học Công nghệ Giao thông vận tải cho biết: “Vấn đề của Việt Nam trong giai đoạn tới không phải là thiếu tinh thần kinh doanh. Ngược lại, người Việt có khả năng xoay xở, thích ứng và tự tạo sinh kế rất mạnh. Điều còn thiếu là một hạ tầng thể chế đủ thân thiện để tinh thần ấy không bị tiêu hao vào thủ tục, chi phí vốn, sự bất định chính sách và những rào cản tuân thủ vượt quá sức của doanh nghiệp nhỏ”.

119.000 doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường, vì thế, nên được đọc như một tín hiệu kép. Một mặt, đó là niềm tin đang nhúc nhích trở lại. Mặt khác, đó cũng có thể là tiếng gõ cửa của một tầng lớp doanh nhân nhỏ đang cần được nâng đỡ thực chất hơn. Chính sách tốt không chỉ làm doanh nghiệp đăng ký dễ hơn, mà phải giúp họ sống sót lâu hơn, lớn lên lành mạnh hơn và bước ra khỏi vòng luẩn quẩn “mở ra – đóng lại – mở lại”.

Một nền kinh tế mạnh không được đo bằng số giấy đăng ký kinh doanh được cấp trong bốn tháng mà được đo bằng số doanh nghiệp đủ sức đi qua hai năm đầu tiên, tồn tại và tạo giá trị thật. Khi ấy, con số 119.000 mới không còn là “ảo giác số lượng”, mà trở thành chỉ dấu của một chu kỳ phục hồi có nền móng.

Tin bài khác
Hải Phòng tăng tốc về đích, quyết tâm chinh phục mục tiêu GRDP 13%

Hải Phòng tăng tốc về đích, quyết tâm chinh phục mục tiêu GRDP 13%

Sau nửa đầu năm ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong 5 năm qua, Hải Phòng tiếp tục điều chỉnh kịch bản phát triển cho 6 tháng cuối năm với quyết tâm hoàn thành mục tiêu GRDP đạt 13%. Thành phố đồng thời kích hoạt hàng loạt giải pháp đột phá, giao rõ trách nhiệm cho từng ngành, từng địa phương để tạo bứt phá trên mọi lĩnh vực.
Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050

Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050

Thách thức của Net Zero (chuyển đổi hướng tới phát thải ròng bằng 0) của Việt Nam không chỉ nằm ở việc tìm nguồn vốn, mà còn ở khả năng xây dựng hạ tầng thị trường và chuẩn hóa dự án để dòng tiền quốc tế có thể đi vào nền kinh tế một cách thực chất.
Dung Quất được đề xuất cơ chế đặc thù phát triển trung tâm năng lượng quốc gia

Dung Quất được đề xuất cơ chế đặc thù phát triển trung tâm năng lượng quốc gia

Đề án phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất đang được khẩn trương hoàn thiện theo hướng xây dựng cơ chế đặc thù về đầu tư, đất đai, tài chính và ưu đãi nhằm hình thành chuỗi công nghiệp năng lượng tích hợp, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển kinh tế biển.
Trình Quốc hội dự án vành đai 5 vùng Thủ đô trên 288.000 tỷ đồng

Trình Quốc hội dự án vành đai 5 vùng Thủ đô trên 288.000 tỷ đồng

Dự án Vành đai 5 vùng Thủ đô với tổng vốn hơn 288.000 tỷ đồng đang được trình Quốc hội xem xét, đặt ra bài toán lớn về nguồn lực, tiến độ và hiệu quả đầu tư trong giai đoạn tới.
TP. Hồ Chí Minh nâng chuẩn lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao

TP. Hồ Chí Minh nâng chuẩn lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao

Không còn đặt mục tiêu thu hút FDI bằng mọi giá, TP. Hồ Chí Minh đang thay đổi tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Những dự án sở hữu công nghệ cao, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tạo sức lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước trở thành ưu tiên trong chiến lược phát triển giai đoạn mới.
ĐBQH đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

ĐBQH đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, một số đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung hoạt động kinh doanh kim cương vào danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời kiến nghị siết quản lý đối với một số mô hình kinh doanh mới tiềm ẩn nhiều rủi ro.
ĐBQH: Cấm kinh doanh khí cười N₂O cần đồng bộ quy định để ngăn mua bán trái phép

ĐBQH: Cấm kinh doanh khí cười N₂O cần đồng bộ quy định để ngăn mua bán trái phép

Thảo luận tại Quốc hội, nhiều đại biểu ủng hộ việc cấm đầu tư, kinh doanh khí cười N₂O nhưng cho rằng cần hoàn thiện cơ sở pháp lý và quy định chuyển tiếp để bảo đảm xử lý hiệu quả các hành vi mua bán trái phép, tránh phát sinh vướng mắc trong thực thi.
ĐBQH đề xuất hoàn thiện hạ tầng số, rút ngắn thời gian kiểm tra sau thông quan

ĐBQH đề xuất hoàn thiện hạ tầng số, rút ngắn thời gian kiểm tra sau thông quan

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng số, tăng cường kết nối liên thông và cải cách thủ tục nhằm rút ngắn thời gian xử lý, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời bảo đảm tính khả thi của các quy định mới.
Đề xuất siết quản lý thiết kế đô thị tại các dự án bất động sản quy mô lớn

Đề xuất siết quản lý thiết kế đô thị tại các dự án bất động sản quy mô lớn

Thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị bổ sung cơ chế kiểm soát chặt thiết kế đô thị đối với các dự án bất động sản quy mô lớn nhằm bảo đảm cảnh quan, phát triển kiến trúc bền vững và nâng cao chất lượng không gian đô thị.
Vũng Áng định hình khu kinh tế ven biển đa ngành, ưu tiên 5 nhóm dự án đến 2030

Vũng Áng định hình khu kinh tế ven biển đa ngành, ưu tiên 5 nhóm dự án đến 2030

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 5/8/2026 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng đến năm 2050. Quy hoạch mới đặt mục tiêu xây dựng khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, đa chức năng, tạo dư địa thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, cảng biển, logistics và hệ thống đô thị hiện đại, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho tỉnh Hà Tĩnh.
Cao tốc TP.HCM - Long Thành tăng tốc thi công quyết về đích năm 2026

Cao tốc TP.HCM - Long Thành tăng tốc thi công quyết về đích năm 2026

Các nhà thầu đang tăng tốc thi công dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Long Thành, vượt khó về vật liệu, thời tiết, quyết hoàn thành đúng tiến độ năm 2026 theo yêu cầu Chính phủ.
Việt Nam hoàn tất hồ sơ nâng hạng tuân thủ thuế, hướng tới rời danh sách thuế EU

Việt Nam hoàn tất hồ sơ nâng hạng tuân thủ thuế, hướng tới rời danh sách thuế EU

Việc hoàn thành hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu gửi Ban Thư ký Diễn đàn Toàn cầu đánh dấu thêm một bước trong lộ trình nâng cao mức độ minh bạch về thuế của Việt Nam. Nếu đạt kết quả tích cực, quá trình này sẽ góp phần cải thiện môi trường đầu tư, tăng uy tín quốc gia và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động của doanh nghiệp trong các giao dịch quốc tế.
Yêu cầu đẩy nhanh hoàn thiện cao tốc phân kỳ, ưu tiên mở rộng 2 làn lên 4 làn

Yêu cầu đẩy nhanh hoàn thiện cao tốc phân kỳ, ưu tiên mở rộng 2 làn lên 4 làn

Chính phủ yêu cầu rà soát, ưu tiên đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ, tập trung mở rộng 2 làn lên 4 làn, đồng thời linh hoạt huy động nguồn lực nhằm bảo đảm mục tiêu hạ tầng đến năm 2030.
Hải quan Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng tầm hợp tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Hải quan Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng tầm hợp tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Thương mại toàn cầu biến động và các thách thức về an ninh chuỗi cung ứng, gian lận thương mại xuyên biên giới ngày càng gia tăng, Hải quan Việt Nam đang chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, thúc đẩy hiện đại hóa quản lý, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và nâng cao vị thế tại các diễn đàn hải quan khu vực, toàn cầu.
Lâm Đồng: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam dồn lực đưa sân bay Liên Khương mở lại ngày 19-8

Lâm Đồng: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam dồn lực đưa sân bay Liên Khương mở lại ngày 19-8

Chiều 4/8, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) làm việc với UBND tỉnh Lâm Đồng và các hãng hàng không về kế hoạch phục hồi hoạt động bay đến địa phương.