Thứ năm 05/11/2026 19:49
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

119.000 doanh nghiệp quay lại thị trường: Tín hiệu phục hồi hay áp lực mưu sinh?

Hơn 119.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường trong 4 tháng đầu 2026, nhưng liệu đây là tín hiệu phục hồi kinh tế hay áp lực mưu sinh gia tăng?

Bốn tháng đầu năm 2026, bức tranh doanh nghiệp Việt Nam phát đi một tín hiệu tưởng tích cực. Hơn 119.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ. Trong đó có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn gần 785.400 tỷ đồng, tăng 50,7% về số doanh nghiệp và 60,1% về vốn; thêm 41.600 doanh nghiệp quay lại hoạt động, tăng 8,6%.

Bình quân mỗi tháng, nền kinh tế đón gần 29.900 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 1,9 triệu tỷ đồng.

Đây là một chỉ báo tích cực, sau giai đoạn nhiều doanh nghiệp co cụm, trì hoãn đầu tư, thậm chí rời bỏ thị trường, việc dòng vốn đăng ký tăng mạnh cho thấy một bộ phận nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp bắt đầu nhìn thấy cơ hội mới. Nhưng nếu chỉ đọc con số 119.000 như một lời khẳng định rằng niềm tin kinh doanh đã phục hồi, rất có thể chúng ta đang đứng trước một ‘ảo giác số lượng’.

Biểu đồ: Dòng chảy “vào – ra” của doanh nghiệp Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với số doanh nghiệp gia nhập gần tương đương số rút lui. Nguồn: Cục Thống kê.
Biểu đồ: Dòng chảy “vào – ra” của doanh nghiệp Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với số doanh nghiệp gia nhập gần tương đương số rút lui. Nguồn: Cục Thống kê - Bộ Tài Chính.

Bởi cùng thời gian đó, nền kinh tế cũng ghi nhận 72.200 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 21.500 doanh nghiệp chờ giải thể và gần 15.200 doanh nghiệp hoàn tất giải thể; bình quân mỗi tháng có khoảng 27.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Nghĩa là cứ gần 29.900 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay lại, lại có khoảng 27.200 doanh nghiệp rời đi. Cán cân vẫn dương, nhưng khoảng cách không quá rộng.

Điều đáng nói hơn là số doanh nghiệp thành lập mới tăng 50,7%, vốn đăng ký tăng 60,1%, nhưng lao động đăng ký chỉ tăng 0,3%. Nếu doanh nghiệp mới tăng mạnh mà lao động gần như không tăng, phải chăng một phần đáng kể trong làn sóng gia nhập thị trường đang là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp một vài người, hoặc mô hình kinh doanh dựa nhiều vào nền tảng số, thuê ngoài, tự động hóa và vận hành tinh gọn?

Ở các nền kinh tế phát triển, số doanh nghiệp mới không bao giờ được đọc đơn độc. World Bank khi phân tích dữ liệu khởi nghiệp toàn cầu, chuyên gia Homi Kharas nhấn mạnh rằng đăng ký kinh doanh là thước đo quan trọng của khu vực chính thức, nhưng cần nhìn trong tương quan với chất lượng thể chế, năng lực thực thi chính sách và khả năng doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động. Cơ sở dữ liệu Entrepreneurship Database của World Bank đo “mật độ doanh nghiệp mới” theo số công ty trách nhiệm hữu hạn đăng ký mới trên 1.000 người trong độ tuổi lao động, nhằm so sánh sức sống khu vực tư nhân giữa các quốc gia.

Homi Kharas – Brookings Institution, nguyên Kinh tế trưởng World Bank khu vực Đông Á, chuyên gia về bẫy thu nhập trung bình và chất lượng tăng trưởng.
Homi Kharas – Brookings Institution, nguyên Kinh tế trưởng World Bank khu vực Đông Á, chuyên gia, nổi tiếng về khái niệm "bẫy thu nhập trung bình" và chất lượng tăng trưởng.

Từ góc nhìn đó, câu hỏi lớn với Việt Nam không chỉ là “có bao nhiêu doanh nghiệp mới”, mà là “bao nhiêu doanh nghiệp trong số đó sẽ sống được sau 12–24 tháng, tạo việc làm thật, nộp thuế thật, mở rộng thị trường thật và nâng năng suất thật?”. Ở Mỹ, Kauffman Indicators of Entrepreneurship không chỉ đo tỷ lệ người bắt đầu kinh doanh, mà còn đo “opportunity share” – tỷ lệ doanh nhân khởi nghiệp vì cơ hội thay vì thất nghiệp, cùng tỷ lệ sống sót ban đầu của startup. Theo Kauffman, năm 2021, khoảng 80,9% doanh nhân mới tại Mỹ thuộc nhóm khởi nghiệp vì cơ hội; tỷ lệ sống sót sau một năm của cơ sở kinh doanh mới là 81,7%.

Đó là một gợi ý quan trọng cho Việt Nam: một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp mới chưa chắc đã khỏe, nếu phần lớn doanh nghiệp được lập ra vì người lao động mất việc, thu nhập bấp bênh, buộc phải tự kinh doanh để mưu sinh. Trong trường hợp đó, đăng ký kinh doanh tăng có thể phản ánh sức chống chịu của người dân, nhưng chưa chắc phản ánh chất lượng phục hồi của nền kinh tế.

Đây cũng là điểm mà Dự án nghiên cứu toàn cầu về khởi nghiệp (Global Entrepreneurship Monitor - GEM) thường phân biệt rất rõ: khởi nghiệp vì cơ hội và khởi nghiệp vì nhu cầu sinh tồn là hai trạng thái khác nhau. Một người mở doanh nghiệp vì nhìn thấy thị trường mới, công nghệ mới, mô hình mới sẽ có hành vi đầu tư, quản trị và tăng trưởng khác với một người mở hộ kinh doanh hoặc công ty nhỏ vì mất nguồn thu nhập ổn định. GEM 2024/2025 tiếp tục được dùng như một bộ chỉ báo quốc tế để đánh giá thực chất động lực khởi nghiệp giữa các quốc gia, thay vì chỉ nhìn vào số lượng đăng ký.

Với Việt Nam, sự tăng mạnh của nhóm doanh nghiệp dịch vụ cũng cần được tư duy sâu sắc. Bốn tháng đầu năm, khu vực dịch vụ có gần 58.100 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 48,7%; công nghiệp và xây dựng có 18.900 doanh nghiệp, tăng 56,6%; nông, lâm nghiệp và thủy sản có 827 doanh nghiệp, tăng 66,7%. Dịch vụ dẫn đầu là điều dễ hiểu trong nền kinh tế đô thị hóa, số hóa và tiêu dùng ngày càng đa dạng. Nhưng nếu phần lớn doanh nghiệp mới tập trung vào thương mại, dịch vụ nhỏ, bán lẻ, ăn uống, môi giới, tư vấn ngắn hạn, thì sức lan tỏa về năng suất, công nghệ và xuất khẩu có thể không lớn như kỳ vọng.

"Việc quay lại kinh doanh lúc này không phải là tín hiệu tự tin, mà là phản ứng sinh tồn. Thị trường chưa thực sự hồi phục, nhưng áp lực chi phí, nhân sự và dòng tiền buộc chúng tôi phải mở lại, dù biết rủi ro vẫn còn rất lớn.” – Anh Phạm Văn Hoàng, chủ một doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại cho biết.

World Bank trong phần cập nhật về Việt Nam lưu ý rằng nền kinh tế đang đối mặt đồng thời nhiều thách thức: già hóa dân số, dịch chuyển thương mại toàn cầu, tự động hóa nhanh và rủi ro khí hậu. Để duy trì tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tăng cường thể chế, cải thiện năng lực thực thi chính sách, mở rộng tiếp cận tài chính và công nghệ cho SME, đồng thời nâng chất lượng nguồn nhân lực.

Nhìn từ khuyến nghị đó, con số 119.000 doanh nghiệp nên được xem là “điểm mở đầu của một cuộc kiểm tra sức khỏe”, chưa phải “giấy chứng nhận phục hồi”. Doanh nghiệp có quay lại thị trường thật hay chỉ quay lại trên giấy? Vốn đăng ký có được giải ngân thành nhà xưởng, nhân sự, công nghệ, hàng hóa, hợp đồng hay chỉ là kỳ vọng? Doanh nghiệp mới có đủ năng lực tuân thủ thuế, hóa đơn, bảo hiểm, phòng cháy chữa cháy, môi trường, dữ liệu, thương mại điện tử hay không? Nếu thủ tục gia nhập dễ hơn nhưng chi phí tồn tại vẫn cao, làn sóng doanh nghiệp mới có thể nhanh chóng chuyển thành làn sóng tạm ngừng mới.

Ở nhiều nền kinh tế phát triển, bài học không nằm ở việc cổ vũ “càng nhiều doanh nghiệp càng tốt”, mà ở việc tạo hệ sinh thái để doanh nghiệp nhỏ lớn lên. OECD nhấn mạnh SME giữ vai trò trung tâm trong việc tạo việc làm, đổi mới và bao trùm xã hội; tuy nhiên, SME thường bị hạn chế bởi khả năng tiếp cận tài chính, công nghệ, dữ liệu, kỹ năng và mạng lưới kinh doanh.

Vì vậy, với Việt Nam, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn tới cần những hành động thiết thực hơn. Điều doanh nghiệp nhỏ cần là những cơ chế cầm tay chỉ việc: nơi hỏi được, nơi được hướng dẫn hồ sơ thật, nơi biết chính sách ưu đãi nào áp dụng cho mình, nơi có phản hồi rõ ràng thay vì tự đọc thông tư, tự làm công văn rồi chờ đợi trong mơ hồ. Một doanh nghiệp siêu nhỏ không thiếu khát vọng; họ thiếu thời gian, nhân sự pháp lý, năng lực kế toán, khả năng đọc chính sách và chi phí để thử sai.

Con số doanh nghiệp quay lại thị trường cũng có một chiều sâu tâm lý kinh tế rất đáng chú ý. Một chủ doanh nghiệp quay lại không nhất thiết vì thị trường đã dễ hơn; đôi khi vì họ không còn lựa chọn nào khác. Khi việc làm biến động, đơn hàng không ổn định, thu nhập gia đình chịu áp lực, nhiều người sẽ chọn mở lại cửa hàng, lập công ty, bán hàng online, làm dịch vụ nhỏ. Đó là năng lượng sinh tồn rất đáng trân trọng, nhưng nếu thiếu môi trường nâng đỡ, năng lượng ấy dễ bị bào mòn bởi chi phí vốn, sức mua yếu, cạnh tranh giá rẻ, nghĩa vụ tuân thủ và rủi ro pháp lý.

Vì thế, “119.000 doanh nghiệp có phải tin vui không?”. Có, đó là tin vui. Nhưng tin vui này mới chỉ là phần đầu của câu chuyện. Phần sau quan trọng hơn, sau 12 tháng, bao nhiêu doanh nghiệp còn hoạt động? Sau 24 tháng, bao nhiêu doanh nghiệp có doanh thu tăng? Bao nhiêu doanh nghiệp tuyển thêm lao động? Bao nhiêu doanh nghiệp tiếp cận được vốn chính thức? Bao nhiêu doanh nghiệp chuyển từ kinh doanh tự phát sang quản trị bài bản? Bao nhiêu doanh nghiệp đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng của FDI, xuất khẩu hoặc kinh tế số?

Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, nền kinh tế có thể rất dễ rơi vào trạng thái “đông doanh nghiệp nhưng ít doanh nghiệp mạnh”. Khi ấy, số lượng tăng tạo cảm giác phục hồi, nhưng chất lượng doanh nghiệp không đủ để kéo năng suất, tiền lương và năng lực cạnh tranh quốc gia đi lên.

Doanh nghiệp quay lại thị trường: Niềm tin đang phục hồi hay áp lực mưu sinh đang tăng?
Doanh nghiệp quay lại thị trường: Niềm tin đang phục hồi hay áp lực mưu sinh đang tăng?

Ở góc nhìn quản trị, TS. Nguyễn Thúy Lan, Khoa Quản trị, Đại học Công nghệ Giao thông vận tải cho biết: “Vấn đề của Việt Nam trong giai đoạn tới không phải là thiếu tinh thần kinh doanh. Ngược lại, người Việt có khả năng xoay xở, thích ứng và tự tạo sinh kế rất mạnh. Điều còn thiếu là một hạ tầng thể chế đủ thân thiện để tinh thần ấy không bị tiêu hao vào thủ tục, chi phí vốn, sự bất định chính sách và những rào cản tuân thủ vượt quá sức của doanh nghiệp nhỏ”.

119.000 doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường, vì thế, nên được đọc như một tín hiệu kép. Một mặt, đó là niềm tin đang nhúc nhích trở lại. Mặt khác, đó cũng có thể là tiếng gõ cửa của một tầng lớp doanh nhân nhỏ đang cần được nâng đỡ thực chất hơn. Chính sách tốt không chỉ làm doanh nghiệp đăng ký dễ hơn, mà phải giúp họ sống sót lâu hơn, lớn lên lành mạnh hơn và bước ra khỏi vòng luẩn quẩn “mở ra – đóng lại – mở lại”.

Một nền kinh tế mạnh không được đo bằng số giấy đăng ký kinh doanh được cấp trong bốn tháng mà được đo bằng số doanh nghiệp đủ sức đi qua hai năm đầu tiên, tồn tại và tạo giá trị thật. Khi ấy, con số 119.000 mới không còn là “ảo giác số lượng”, mà trở thành chỉ dấu của một chu kỳ phục hồi có nền móng.

Tin bài khác
Giải ngân 708.600 tỷ đồng, đầu tư công vẫn vướng mặt bằng và vật liệu

Giải ngân 708.600 tỷ đồng, đầu tư công vẫn vướng mặt bằng và vật liệu

Giải ngân vốn đầu tư công 10 tháng năm 2026 đạt hơn 708.567 tỷ đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, phía sau kết quả tích cực vẫn là những điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, nguồn cung vật liệu và năng lực tổ chức thi công. Việc điều phối nguồn lực liên tỉnh, xử lý dứt điểm thủ tục và nâng trách nhiệm chủ đầu tư đang trở thành yêu cầu cấp thiết để đưa vốn ngân sách vào công trình thực tế.
Pháp hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị 35.000 nhân lực đường sắt vào năm 2030

Pháp hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị 35.000 nhân lực đường sắt vào năm 2030

Với khoản tài trợ 850.000 euro từ AFD, chương trình hợp tác đào tạo đã giúp 110 cán bộ ngành xây dựng tiếp cận kinh nghiệm quốc tế về phát triển đường sắt tốc độ cao, tạo nền tảng nhân lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.
Tuyên Quang: Đánh thức lợi thế, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới

Tuyên Quang: Đánh thức lợi thế, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới

Không gian phát triển được mở rộng sau hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang đang tạo thêm cơ hội để địa phương khai thác tiềm năng về du lịch, nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế cửa khẩu. Kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh (4/11/1831 – 4/11/2026) cũng là dịp để Tuyên Quang nhìn lại hành trình lịch sử, đồng thời xác định những động lực mới nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Từ hành vi thông đồng, dìm giá đến tình trạng trả giá cao rồi bỏ cọc, những bất cập trong hoạt động đấu giá tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát ngay từ khâu đăng ký đến khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên thảo luận ngày 3/11, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm của đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá và tăng cường công cụ nhận diện vi phạm, trong khi cơ quan soạn thảo đề xuất nâng tiền đặt trước, bổ sung chế tài cấm tham gia đấu giá.
Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Với mục tiêu kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án và mở rộng năng lực sản xuất, ngày 3/11, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Kiên dẫn đầu Đoàn công tác thành phố đến thăm, kiểm tra và làm việc với 3 doanh nghiệp công nghệ cao trọng điểm trên địa bàn phường Đông Hải. Qua đó, thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đồng hành, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.