Tính đến hết tháng 4/2026, bức tranh giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục cho thấy những gam màu trầm khi tỷ lệ thực hiện mới đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Dù nguồn lực đã được phân bổ với quy mô hơn 1,1 triệu tỷ đồng, song tiến độ giải ngân chậm đang đặt ra nhiều lo ngại về hiệu quả sử dụng vốn, cũng như vai trò “đầu kéo” của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế.
![]() |
Tính đến ngày 30/4, tổng số vốn giải ngân đầu tư công đạt khoảng 144.282,9 tỷ đồng, tương đương 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Ảnh: KTDT |
Dòng vốn nghìn tỷ chưa “chảy” đúng nhịp
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được giao lên tới 1.013.443,4 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách trung ương chiếm hơn 363 nghìn tỷ đồng, còn lại là ngân sách địa phương với trên 650 nghìn tỷ đồng.
Nếu tính cả phần vốn địa phương giao tăng và vốn kéo dài từ các năm trước, tổng quy mô vốn đầu tư công năm nay đã vượt mốc 1,1 triệu tỷ đồng—một con số cho thấy quyết tâm rất lớn của Chính phủ trong việc sử dụng đầu tư công như một động lực thúc đẩy tăng trưởng.
Tuy nhiên, nghịch lý đang hiện hữu khi khối lượng vốn lớn chưa đi kèm với tốc độ giải ngân tương xứng. Tính đến ngày 30/4, tổng số vốn giải ngân mới đạt 144.282,9 tỷ đồng, tương đương 14,2% kế hoạch. Đây là mức thấp so với yêu cầu tiến độ, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang cần thêm lực đẩy từ khu vực công.
Một điểm đáng chú ý là công tác phân bổ vốn đã có chuyển biến tích cực. Đến hết tháng 4, các bộ, ngành và địa phương đã phân bổ chi tiết khoảng 980.550,8 tỷ đồng, đạt trên 95% kế hoạch Thủ tướng giao.
Tuy vậy, vẫn còn hơn 46.000 tỷ đồng chưa được phân bổ chi tiết, tập trung tại 14 bộ, cơ quan trung ương và 17 địa phương. Điều này cho thấy khâu chuẩn bị dự án, hoàn thiện thủ tục đầu tư vẫn chưa thực sự đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải ngân.
Ở một góc độ khác, hơn 79.000 tỷ đồng vẫn đang “chờ” phân bổ ở cấp Chính phủ, chủ yếu dành cho các dự án khởi công mới, các chương trình mục tiêu quốc gia, cũng như các nhiệm vụ liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây đều là những lĩnh vực then chốt, nhưng nếu chậm trễ sẽ kéo theo hệ lụy dây chuyền đối với toàn bộ nền kinh tế.
45 đơn vị giải ngân thấp: “Điểm nghẽn” không mới
Thực tế cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các đơn vị trong triển khai đầu tư công. Báo cáo của Bộ Tài chính cho biết, có tới 27 bộ, cơ quan trung ương và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung của cả nước.
Đáng lưu ý, một số đơn vị gần như “đứng yên”, với tỷ lệ giải ngân dưới 1%, thậm chí chưa giải ngân. Trong danh sách này có thể kể đến Kiểm toán Nhà nước, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Thanh tra Chính phủ hay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…
Ở chiều ngược lại, một số bộ, ngành và địa phương đã đạt mức giải ngân bằng hoặc cao hơn bình quân chung, như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn… Điều này cho thấy nếu quyết liệt trong tổ chức thực hiện, tiến độ giải ngân hoàn toàn có thể được cải thiện.
Câu chuyện giải ngân chậm không phải là vấn đề mới, nhưng vẫn lặp lại qua nhiều năm, với những “nút thắt” quen thuộc như giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục hành chính phức tạp, năng lực chủ đầu tư và nhà thầu hạn chế, tâm lý e ngại trách nhiệm….Những nguyên nhân này không chỉ làm “chậm nhịp” dòng vốn mà còn làm giảm hiệu quả lan tỏa của đầu tư công đối với nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, đầu tư công được kỳ vọng đóng vai trò “đầu kéo” để kích thích tổng cầu, hỗ trợ doanh nghiệp và tạo việc làm. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là giải ngân nhanh, mà còn là giải ngân hiệu quả.
Thực tế cho thấy, nếu vốn được “bơm” ra nhưng không đi đúng địa chỉ, hoặc dàn trải, kém hiệu quả, thì không những không tạo ra tăng trưởng mà còn gây lãng phí nguồn lực và áp lực lên ngân sách.
Để đạt mục tiêu giải ngân trong những tháng còn lại của năm, rõ ràng cần những giải pháp mạnh mẽ và thực chất hơn. Trong đó, yếu tố then chốt vẫn là trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương.
Cùng với đó, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc pháp lý, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện dự án.