![]() |
Giá vàng hôm nay 30/8: Vàng nhẫn tăng gần 1 triệu đồng/lượng, lập "đỉnh" mới |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 9h10 ngày 30/8/2025, giá vàng hôm nay tại sàn giao dịch của một số công ty kinh doanh vàng trong nước như sau:
Giá vàng nhẫn SJC 9999 niêm yết ở mức 121 triệu đồng/lượng, bán ra ở mức 123,5 triệu đồng/lượng, tăng 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với sáng qua.
DOJI tại thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh giao dịch ở mức 120,6 – 123,6 triệu đồng/lượng, tăng 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với sáng qua.
Giá vàng nhẫn thương hiệu PNJ ở ngưỡng 120,7 triệu đồng/lượng, tăng 500.000 đồng/lượng và bán ra ở mức 123,6 triệu đồng/lượng, tăng 400.000 đồng/lượng so với sáng qua.
Bảo Tín Minh Châu niêm yết vàng nhẫn ở mức 121,2 - 124,2 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với sáng qua.
Phú Quý SJC niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 120,7 – 123,7 triệu đồng/lượng, tăng 700.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với sáng qua.
Giá vàng miếng các thương hiệu DOJI được mua vào ở mức 127,4 triệu đồng/lượng; bán ra ở mức 128,9 triệu đồng/lượng, tăng 400.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra.
Vàng miếng thương hiệu SJC, Bảo Tín Minh Châu và PNJ được mua vào ở mức 127,8 triệu đồng/lượng; bán ra ở mức 129,3 triệu đồng/lượng, tăng 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào - bán ra.
Riêng vàng miếng thương hiệu Phú Quý SJC đang mua vào thấp hơn 1 triệu đồng so với các thương hiệu khác. Vàng miếng Phú Quý mua vào ở mức 126,8 triệu đồng/lượng; bán ra ở mức 129,3 triệu đồng/lượng, tăng 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào - bán ra.
Như vậy, giá vàng miếng trong nước hôm nay các thương hiệu tăng. Tương tự, giá vàng nhẫn các thương hiệu tăng.
1. DOJI - Cập nhật: 30/08/2025 09:12 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
Loại | Mua vào | Bán ra |
AVPL/SJC HN | 129,100 ▲1700K | 130,600 ▲1700K |
AVPL/SJC HCM | 129,100 ▲1700K | 130,600 ▲1700K |
AVPL/SJC ĐN | 129,100 ▲1700K | 130,600 ▲1700K |
Nguyên liêu 9999 - HN | 11,440 ▲190K | 11,540 ▲190K |
Nguyên liêu 999 - HN | 11,430 ▲190K | 11,530 ▲190K |
2. PNJ - Cập nhật: 30/08/2025 09:07 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
Loại | Mua vào | Bán ra |
TPHCM - PNJ | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Hà Nội - PNJ | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Đà Nẵng - PNJ | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Miền Tây - PNJ | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Tây Nguyên - PNJ | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Đông Nam Bộ - PNJ | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
3. AJC - Cập nhật: 30/08/2025 00:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
Loại | Mua vào | Bán ra |
Trang sức 99.99 | 12,020 ▲170K | 12,470 ▲170K |
Trang sức 99.9 | 12,010 ▲170K | 12,460 ▲170K |
NL 99.99 | 11,280 ▲170K | |
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 11,280 ▲170K | |
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 12,230 ▲170K | 12,530 ▲170K |
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 12,230 ▲170K | 12,530 ▲170K |
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 12,230 ▲170K | 12,530 ▲170K |
Miếng SJC Thái Bình | 12,910 ▲130K | 13,060 ▲130K |
Miếng SJC Nghệ An | 12,910 ▲130K | 13,060 ▲130K |
Miếng SJC Hà Nội | 12,910 ▲130K | 13,060 ▲130K |
4. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
Loại | Mua vào | Bán ra |
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,291 ▲13K | 13,062 ▲130K |
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,291 ▲13K | 13,063 ▲130K |
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 1,225 ▲1104K | 125 ▼1110K |
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 1,225 ▲1104K | 1,251 ▲15K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 1,215 ▲10K | 1,235 ▲10K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 117,277 ▲990K | 122,277 ▲990K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 85,284 ▲750K | 92,784 ▲750K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 76,638 ▲680K | 84,138 ▲680K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 67,993 ▲611K | 75,493 ▲611K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 64,658 ▲583K | 72,158 ▲583K |
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 44,155 ▲417K | 51,655 ▲417K |
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,291 ▲13K | 1,306 ▲13K |
Giá vàng thế giới, lúc 9h10 ngày 30/8 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay ở mức 3446,50 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 24,37 USD/Ounce so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26,502 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 109,8 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng đang cao hơn giá vàng quốc tế 19,5 triệu đồng/lượng.
![]() |
Giá vàng thế giới hôm nay - Nguồn TradingView |
Giá vàng thế giới đang ghi nhận đà tăng mạnh nhất kể từ tháng 4, nhờ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9. Trong tháng 8, giá vàng giao ngay đã tăng 4,73%, lên mức 3.497,3 USD/ounce, trong khi hợp đồng tương lai vàng Mỹ cũng tăng 0,7%. Dữ liệu lạm phát và chi tiêu tiêu dùng Mỹ củng cố niềm tin rằng Fed sẽ sớm nới lỏng chính sách tiền tệ, với xác suất hạ lãi suất 0,25% vào tháng 9 được thị trường định giá tới 89%.
Ngoài yếu tố kinh tế, sự không chắc chắn về tính độc lập của Fed cũng góp phần làm vàng trở thành kênh trú ẩn an toàn, dòng vốn ETF vàng tiếp tục tăng. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng mốc kháng cự 3.400 USD/ounce là rào cản lớn trong ngắn hạn, vàng có thể điều chỉnh sau chuỗi tăng dài ngày. Trong nước, dù cơ chế độc quyền vàng miếng đã được dỡ bỏ, nguồn cung vẫn chưa đáp ứng cầu, khiến giá khó tiệm cận thế giới.
Về dài hạn, Bank of America dự báo vàng có thể đạt 4.000 USD/ounce vào năm 2026, nhờ đồng USD suy yếu, lạm phát duy trì cao và nhu cầu dự trữ vàng của nhiều quốc gia gia tăng. Trong bối cảnh bất ổn tài chính, vàng vẫn là tài sản hấp dẫn, đặc biệt khi chi phí nắm giữ ngày càng giảm.