Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay giảm nhẹ với tấm thơm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo jasmine và gạo thơm của Việt Nam giảm mạnh 11 - 25 USD/tấn so với tuần trước, trong khi gạo trắng 5% tấm tiếp tục xu hướng tăng giá.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 4/6/2026: Giá gạo thơm xuất khẩu giảm mạnh, gạo trắng 5% tấm tăng giá |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn giao dịch chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo về lượng ít, giá gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 50 đồng/kg, lên mức 8.650 – 8.750 đồng/kg. Tuy nhiên, giá gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.550 – 9.650 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 dao động trong khoảng 9.100 – 9.300 đồng/kg; giá gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 4/6/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 4/6/2026 |
Phân khúc nếp đứng giá. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg;…
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm giảm nhẹ 50 đồng/kg, xuống còn 7.750 - 7.850 đồng/kg. Trong khi giá cám đi ngang ở mức 7.700 - 7.900 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 4/6/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn về ít, giá biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác, giao dịch không nhiều, giá ổn định.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động ở mốc 6.400 - 6.500; giá lúa OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) ổn định trong khoảng 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 4/6/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy giá gạo châu Á biến động khá mạnh so với tuần trước.
Tại Việt Nam, gạo thơm 5% tấm giảm mạnh 25 USD/tấn, xuống còn 490 - 495 USD/tấn. Tương tự, giá gạo jasmine xuất khẩu cũng giảm 11 USD/tấn so với tuần trước, đạt 517 - 521 USD/tấn. Ngược lại, giá gạo trắng 5% tấm tăng thêm 3 USD/tấn, lên 415 - 419 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm tăng 17 USD/tấn so với tuần trước, đạt 457 - 461 USD/tấn, tiếp tục duy trì vị trí cao nhất trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng tăng 10 USD/tấn, lên mức 357 - 361 USD/tấn. Ở chiều ngược lại, gạo Ấn Độ tiếp tục xu hướng giảm giá. Theo đó, giá gạo trắng 5% tấm giảm 3 USD/tấn, còn 339 - 343 USD/tấn; giá gạo đồ 5% tấm giảm 5 USD/tấn, xuống mức 327 - 331 USD/tấn.
Mức tiêu thụ gạo tại Nhật Bản đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng bảy năm trong năm tài chính 2025, phản ánh tác động rõ nét của làn sóng tăng giá lương thực đối với thói quen chi tiêu của người dân. Theo khảo sát người tiêu dùng do một tổ chức chuyên theo dõi cung - cầu gạo công bố, lượng gạo tiêu thụ trung bình hằng tháng chỉ đạt 4,435 kg/người, giảm 6,1% so với năm trước.
Mức sụt giảm này tương đương khoảng 4,4 bát cơm mỗi người trong một năm, cho thấy nhiều hộ gia đình đã chủ động cắt giảm lượng gạo sử dụng khi giá mặt hàng thiết yếu này liên tục leo thang. Thay vào đó, người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang các lựa chọn có chi phí thấp hơn như bánh mì và mì nhằm giảm áp lực sinh hoạt.
Dữ liệu khảo sát cũng phản ánh ảnh hưởng kéo dài của đợt tăng giá gạo diễn ra từ mùa hè năm ngoái, thời điểm nhiều siêu thị rơi vào tình trạng khan hàng và giá bán tăng mạnh trên phạm vi toàn quốc. Có lúc, giá trung bình một bao gạo 5 kg đã lên tới khoảng 4.000 yên, tương đương 25 USD.
Tuy nhiên, thị trường đang xuất hiện những tín hiệu phục hồi. Số liệu sơ bộ tháng 4 cho thấy mức tiêu thụ gạo trung bình tăng thêm 423 gram so với tháng trước. Siêu thị tiếp tục là kênh mua sắm chủ đạo, trong khi mua trực tiếp từ nông dân được ghi nhận là lựa chọn tiết kiệm nhất. Dù giá gạo đã hạ nhiệt phần nào và nhu cầu có dấu hiệu tăng trở lại, chi phí sinh hoạt cao vẫn là thách thức lớn đối với ngân sách của các hộ gia đình Nhật Bản.