Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tăng nhẹ đối với gạo nguyên liệu, nhưng giảm ở mặt hàng cám. Trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu tại các trung tâm lớn tại châu Á đi ngang do nhu cầu yếu và nguồn cung dồi dào.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 28/2/2026: Giá lúa gạo tăng giảm trái chiều |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá giảm tiếp so với hôm qua.
Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng giảm trái chiều so với phiên hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 tăng 50 USD/tấn, lên mức 7.950 – 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 cũng tăng 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 9.250 – 9.350 đồng/kg. Tuy nhiên, gạo IR 50404 ổn định ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; IR 504 hiện dao động trong khoảng 8.000 - 8.100 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 - 8.900 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 28/2/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại không đổi. Cụ thể, gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đứng giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 28/2/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Mặt hàng phụ phẩm giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám giảm 100 đồng/kg, dao động từ 7.900 – 8.000 đồng/kg. Trong khi giá tấm IR 504 duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 28/2/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa Đông Xuân sớm nông dân chào bán lai rai, giao dịch cầm chừng.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thị trường lúa hôm nay giá tiếp tục bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 ổn định ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; OM 5451 (tươi) xuống mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 18 và Đài Thơm 8 (tươi) dao động trong khoảng 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 4218 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa Nàng nhen khô ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa dao động từ 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 28/2/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam quay đầu giảm 2 USD/tấn so với ngày hôm trước, về mốc 431 – 435 USD/tấn; giá gạo trắng 5% tấm tiếp tục giảm nhẹ 1 USD/tấn, còn 359 - 363 USD/tấn. Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm duy trì ổn định trong khoảng 400 – 415 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tiếp tục được báo giá ở mức 381 – 385 USD/tấn. Giá chào bán gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ tăng nhẹ 2 USD/tấn, lên mức 351 - 355 USD/tấn. Tuy nhiên, gạo đồ 5% tấm vẫn duy trì ổn định trong khoảng 351 - 355 USD/tấn. Ở chiều ngược lại, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan giảm nhẹ 1 USD/tấn, xuống còn 362 - 366 USD/tấn.
Theo Reuters, thị trường gạo xuất khẩu tại các trung tâm lớn ở châu Á đang trong trạng thái cầm chừng khi lực mua suy yếu giữa bối cảnh nguồn cung toàn cầu dồi dào. Tại Ấn Độ, giá gạo đồ và gạo trắng 5% tấm gần như không đổi so với tuần trước. Giao dịch trầm lắng, người mua thận trọng, thị trường dè chừng trước triển vọng dư cung kéo dài.
Ở Việt Nam, giá gạo 5% tấm giữ mức 360–365 USD/tấn, đi ngang hai tuần liên tiếp. Dù hoạt động mua bán sôi động hơn sau kỳ nghỉ, áp lực phía trước là rõ ràng: Philippines – khách hàng chủ lực – dự kiến hạ nhập khẩu xuống 150.000 tấn/tháng từ tháng 3, giảm mạnh so với mức 400.000 tấn trước đó. Dữ liệu bốc xếp hơn 200.000 tấn trong ba tuần đầu tháng 2 cho thấy nhịp xuất khẩu vẫn duy trì, nhưng rủi ro giảm tốc là hiện hữu nếu Manila siết đơn hàng.
Tại Thái Lan, giá chào 5% tấm quanh 385 USD/tấn, cao hơn Việt Nam, khiến một phần nhu cầu từ Philippines chuyển hướng. Đồng baht mạnh tiếp tục làm suy yếu lợi thế cạnh tranh, và theo cảnh báo của Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan, xuất khẩu năm nay có thể chỉ đạt khoảng 7 triệu tấn – mức thấp nhất kể từ 2021 nếu thiếu cú hích cầu.
Trong khi đó, Bangladesh đối mặt nghịch lý: mùa bội thu nhưng giá nội địa vẫn cao, buộc chính phủ tăng nhập khẩu và mở cửa cho tư nhân nhằm hạ nhiệt lạm phát lương thực.