Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tăng giảm trái chiều ở một số loại gạo nguyên liệu, lượng gạo về lai rai, giao dịch mua bán ít.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 26/2/2026: Giá lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long biến động trái chiều |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá giảm tiếp so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá giảm nhẹ tùy loại gạo.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng giảm trái chiều so với phiên hôm qua hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 giảm ngày thứ ba liên tiếp, với mức giảm 100 đồng/kg, chỉ còn 7.900 – 8.000 đồng/kg. Ở chiều ngược lại, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 nhích tăng nhẹ 50 đồng/kg, lên mức 9.200 – 9.300 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; IR 504 hiện dao động trong khoảng 8.000 - 8.100 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 - 8.900 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 26/2/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại đứng giá. Cụ thể, gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 26/2/2026 |
Phân khúc nếp bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 26/2/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm giữ đà giảm so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tiếp tục giảm nhẹ 50 đồng/kg, còn 8.000 – 8.150 đồng/kg, đánh dấu ngày giảm thứ ba liên tiếp. Tuy nhiện, giá tấm IR 504 ổn định ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thị trường lúa hôm nay duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 ổn định ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; OM 5451 (tươi) xuống mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 18 và Đài Thơm 8 (tươi) dao động trong khoảng 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 4218 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa Nàng nhen khô ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa dao động từ 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 26/2/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam tăng nhẹ 2 USD/tấn, lên mức 433 - 437 USD/tấn. Ngược lại, giá gạo trắng 5% tấm giảm nhẹ 1 USD/tấn, còn 360 - 364 USD/tấn. Riêng gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn giữ ổn định ở mức 400 - 415 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm cũng đi ngang trong khoảng 381 – 385 USD/tấn. Tương tự, giá chào bán gạo trắng 5% của Ấn Độ cũng giữ nguyên ở mốc 349 - 353 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm dao động trong khoảng 351 - 355 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm cũng không ghi nhận biến động mới, đạt 363 - 367 USD/tấn.
Theo UkrAgroConsult, giá gạo toàn cầu đã tăng 11,1% tính đến giữa tháng 2/2026, đi ngược xu hướng giảm của nhiều nông sản khác như ngô và đường – những mặt hàng vẫn chịu áp lực dư cung. Diễn biến này cho thấy cán cân cung – cầu gạo đang thay đổi rõ rệt, trong bối cảnh đây vẫn là lương thực thiết yếu của hơn một nửa dân số thế giới.
Động lực chính đến từ sự phục hồi nhu cầu sau khi Ấn Độ dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu cuối năm 2025. Thay vì khiến giá hạ nhiệt, nguồn cung bổ sung lại kích hoạt làn sóng mua bù tồn kho tại các quốc gia châu Phi và Trung Đông. Hoạt động gom hàng nhanh chóng gây tắc nghẽn logistics, đẩy giá giao dịch quốc tế đi lên. Cùng lúc, nhu cầu theo mùa trước Ramadan và Tết Nguyên đán tại nhiều nước châu Á tiếp tục củng cố xu hướng tăng.
Thị trường càng thêm phức tạp khi Nhật Bản ghi nhận giá gạo bán lẻ gần như tăng gấp đôi do chậm giải phóng kho dự trữ và cơ chế định giá cứng nhắc. Tâm lý tích trữ của người tiêu dùng nội địa đã lan sang thị trường quốc tế, củng cố kỳ vọng giá cao, bất chấp sản lượng kỷ lục 152 triệu tấn của Ấn Độ.
Làn sóng tăng giá mang lại lợi ích cho các nhà xuất khẩu châu Á và doanh nghiệp kinh doanh gạo nhờ biên lợi nhuận cải thiện. Ngược lại, các nhà sản xuất thực phẩm đối mặt chi phí đầu vào tăng, làm gia tăng nguy cơ lạm phát thực phẩm.