Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay biến động nhẹ. Thị trường giao dịch mua bán yếu, giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm tiếp tục giảm.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 25/2/2026: Giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm tiếp đà giảm |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn không mua vào, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, đa số kho lớn ngừng mua, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giảm nhẹ 50 – 100 đồng/kg so với phiên hôm qua hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 tiếp tục giảm thêm 150 đồng/kg, xuống còn 8.000 – 8.100 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 vẫn ổn định ở mức 9.100 – 9.250 đồng/kg; IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; IR 504 hiện dao động trong khoảng 8.000 - 8.100 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 - 8.900 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 25/2/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại không biến động. Cụ thể, gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 25/2/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Mặt hàng phụ phẩm tiếp tục giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 giảm nhẹ 100 đồng/kg, dao động trong khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; giá cám cũng giảm nhẹ 50 đồng/kg, còn 8.100 – 8.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 25/2/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thị trường lúa hôm nay chững lại so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 ổn định ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; OM 5451 (tươi) xuống mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 18 và Đài Thơm 8 (tươi) dao động trong khoảng 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 4218 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa Nàng nhen khô ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa dao động từ 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 25/2/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam đang dao động ở mức 431 - 435 USD/tấn, giảm nhẹ 2 USD/tấn so với trước Tết Nguyên đán. Tương tự, giá gạo trắng 5% tấm cũng giảm 2 USD/tấn, còn 361 - 365 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm đạt 400 - 415 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm được báo giá ở mức 381 - 385 USD/tấn, giảm 25 USD/tấn nhưng vẫn là quốc gia có giá cao nhất trong khu vực. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% của Ấn Độ được giao dịch trong khoảng 349 - 353 USD/tấn, giảm 1 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm giảm 2 USD/tấn, còn 351 - 355 USD/tấn. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm cũng hạ 2 USD/tấn so với trước đó, đạt 363 - 367 USD/tấn.
Trong bước đi mới nhất, Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) dự kiến giảm mạnh lượng gạo nhập khẩu xuống còn 150.000 tấn/tháng trong tháng 3 và 4, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 400.000 tấn/tháng trước đó. Theo báo BusinessWorld, quyết định này được đưa ra sau tham vấn giữa cơ quan quản lý và giới nhập khẩu, với tinh thần tự nguyện nhằm tránh gây áp lực lên giá lúa nội địa trong cao điểm thu hoạch.
Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco P. Tiu Laurel, Jr. nhấn mạnh đây không phải mệnh lệnh hành chính mà là sự phối hợp vì lợi ích nông dân. Nếu thực hiện đúng kế hoạch, tổng nhập khẩu hai tháng chỉ đạt 300.000 tấn, giảm tới 65,5% so với 869.321 tấn cùng kỳ năm ngoái - một mức co hẹp đáng kể.
Dù vậy, bức tranh đầu năm cho thấy áp lực nhập khẩu vẫn lớn. Theo Bureau of Plant Industry, từ ngày 1/1 đến 5/2, Philippines đã nhập 409.377 tấn gạo; riêng tháng 1 đạt gần 376.000 tấn, tăng hơn 34% so với cùng kỳ năm 2025.
Về dài hạn, DA dự kiến tổng nhập khẩu năm 2026 dao động 3,6–3,8 triệu tấn, đủ đảm bảo nguồn cung nhưng không làm sụt giá lúa tại ruộng. Đáng chú ý, cơ quan này đang xem xét cơ chế “mua nội địa – cấp hạn ngạch nhập khẩu”, yêu cầu thương nhân phải thu mua lúa trong nước mới được phân bổ quota. Cựu Bộ trưởng William D. Dar đề xuất tỷ lệ 4:1 - mua 4 tấn lúa nội mới được nhập 1 tấn gạo.
Giới nông dân đánh giá đây là bước đi có thể tái cân bằng thị trường, nhưng hiệu quả sẽ phụ thuộc vào cơ chế giám sát, đặc biệt là yêu cầu chứng minh mua lúa với giá sàn. Philippines đang thử nghiệm một “van điều tiết” mới giữa nhập khẩu và bảo hộ sản xuất nội địa - bài toán không dễ trong bối cảnh an ninh lương thực vẫn là ưu tiên hàng đầu.