| Dự báo giá vàng 16/4: Xu hướng giảm nhẹ chiếm ưu thế Dự báo giá vàng 18/4: Giá vàng nghiêng về giảm nhẹ Dự báo giá vàng 19/4: Giá vàng tiếp tục tăng |
![]() |
| Dự báo giá vàng 20/4: Giá vàng nhiều khả năng giảm nhẹ hoặc đi ngang |
Giá vàng trong nước hôm nay
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 15h00 ngày 19/4/2025, giá vàng tiếp tục duy trì mặt bằng cao, niêm yết phổ biến ở mức 168,5 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 172 triệu đồng/lượng chiều bán ra. So với tuần trước, giá mua giảm 900.000 đồng/lượng, giá bán giảm 400.000 đồng/lượng, chênh lệch mua – bán giữ ở mức 3,5 triệu đồng/lượng.
Tại DOJI, Phú Quý, PNJ và Bảo Tín Minh Châu, giá vàng đều niêm yết quanh 168,5 – 172 triệu đồng/lượng, cùng mức giảm 400.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với tuần trước, biên độ chênh lệch duy trì 3,5 triệu đồng/lượng.
Riêng Mi Hồng, giá mua vào ở mức 170,5 triệu đồng/lượng, bán ra 172 triệu đồng/lượng. So với tuần trước, giá bán giảm 400.000 đồng/lượng, giá mua giữ nguyên, chênh lệch chỉ 1,5 triệu đồng/lượng – thấp nhất thị trường.
Ở phân khúc vàng nhẫn 9999, giá giảm mạnh hơn vàng miếng, phổ biến từ 600.000 – 900.000 đồng/lượng sau một tuần.
Cụ thể, Bảo Tín Minh Châu và DOJI niêm yết 168,5 – 171,5 triệu đồng/lượng, giảm lần lượt 600.000 đồng/lượng (mua) và 900.000 đồng/lượng (bán), chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
SJC niêm yết thấp hơn ở mức 168 – 171,6 triệu đồng/lượng, giảm 1,1 triệu đồng/lượng chiều mua và 800.000 đồng/lượng chiều bán, biên độ rộng nhất 3,6 triệu đồng/lượng.
PNJ và Phú Quý cùng niêm yết 168,5 – 171,5 triệu đồng/lượng, giảm 600.000 – 900.000 đồng/lượng, chênh lệch ổn định 3 triệu đồng/lượng.
Cập nhật chi tiết giá vàng
| 1. DOJI - Cập nhật: 18/04/2026 08:44 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| SJC -Bán Lẻ | 16,850 | 17,200 |
| Kim TT/AVPL | 16,850 | 17,200 |
| NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG | 16,850 | 17,150 |
| Nguyên Liệu 99.99 | 15,750 | 15,950 |
| Nguyên Liệu 99.9 | 15,700 | 15,900 |
| NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ | 16,550 | 16,950 |
| NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ | 16,500 | 16,900 |
| Nữ trang 99 - Bán Lẻ | 16,430 | 16,880 |
| 1. PNJ - Cập nhật: 18/04/2026 08:38 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| TPHCM - PNJ | 168,500 | 171,500 |
| Hà Nội - PNJ | 168,500 | 171,500 |
| Đà Nẵng - PNJ | 168,500 | 171,500 |
| Miền Tây - PNJ | 168,500 | 171,500 |
| Tây Nguyên - PNJ | 168,500 | 171,500 |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 168,500 | 171,500 |
| 1. AJC - Cập nhật: 19/04/2026 00:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Miếng SJC Hà Nội | 16,900 | 17,200 |
| Miếng SJC Nghệ An | 16,900 | 17,200 |
| Miếng SJC Thái Bình | 16,900 | 17,200 |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 16,850 | 17,150 |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 16,850 | 17,150 |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 16,850 | 17,150 |
| NL 99.90 | 15,450 | |
| NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình | 15,500 | |
| Trang sức 99.9 | 16,340 | 17,040 |
| Trang sức 99.99 | 16,350 | 17,050 |
| 1. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,685 | 17,202 |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,685 | 17,203 |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 168 | 1,715 |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 168 | 1,716 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 166 | 170 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 161,817 | 168,317 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 118,763 | 127,663 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 106,862 | 115,762 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 9,496 | 10,386 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 9,037 | 9,927 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 62,147 | 71,047 |
| Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
| Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,685 | 172 |
Dự báo giá vàng ngày mai 20/4/2026
Theo Kitco, lúc 15h00 ngày 19/4/2026 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới đứng ở mức 4.829,4 USD/ounce, tăng 82,2 USD/ounce so với tuần trước. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank ở mức 26.357 VND/USD, giá vàng thế giới tương đương khoảng 153,47 triệu đồng/lượng (chưa bao gồm thuế, phí). Trong khi đó, giá vàng miếng SJC trong nước đang cao hơn giá quy đổi thế giới khoảng 18,56 triệu đồng/lượng.
Theo Kitco News, giá vàng tiếp tục ghi nhận tuần tăng thứ tư liên tiếp trong bối cảnh thị trường quốc tế phản ứng tích cực trước các thông tin địa chính trị, đặc biệt là thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Hezbollah cùng với việc eo biển Hormuz được mở lại.
Diễn biến trong tuần cho thấy thị trường vàng biến động mạnh. Mở đầu tuần ở mức 4.676,77 USD/ounce, giá nhanh chóng lùi về đáy 4.645 USD trước khi phục hồi trở lại. Sau nhịp tích lũy, vàng vượt 4.715 USD và thiết lập vùng hỗ trợ quanh 4.700 USD/ounce. Đà tăng tiếp diễn giúp giá vươn lên 4.790 USD, vượt mốc 4.800 USD và đạt đỉnh giữa tuần trên 4.850 USD/ounce.
Trong các phiên giữa tuần, giá vàng chủ yếu đi ngang trong biên độ 4.790 – 4.835 USD/ounce. Sang sáng thứ Sáu, thị trường bứt phá mạnh khi xuất hiện thông tin tích cực từ Trung Đông, giá tăng nhanh từ 4.786 USD, lên trên 4.890 USD/ounce sau khi xác nhận việc mở lại eo biển Hormuz và tuyên bố liên quan từ Tổng thống Mỹ Donald Trump. Tuy nhiên, lực chốt lời sau đó khiến giá không vượt được mốc 4.900 USD/ounce và kết tuần tại 4.829 USD/ounce.
Khảo sát của Kitco News cho thấy, thị trường nghiêng về xu hướng tích cực. Trong số 10 chuyên gia Phố Wall, có 8 người (80%) dự báo giá vàng tiếp tục tăng, 2 người (20%) cho rằng sẽ giảm. Ở nhóm nhà đầu tư cá nhân, 33/47 người (70%) kỳ vọng giá tăng, 9 người (19%) dự báo giảm và 5 người (11%) nhận định giá đi ngang, qua đó cho thấy niềm tin cải thiện trước triển vọng ổn định hơn tại Trung Đông.