Theo văn bản của Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Nai ngày 15/5/2026, UBND thành phố Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 172/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho Liên hiệp Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai, gồm đợt 1, đợt 2 và đợt 3, để xây dựng Khu dân cư Long Hưng tại phường Long Hưng.
![]() |
| Việc công khai quyết định giá đất và báo cáo thuyết minh phương án giá đất được thực hiện theo quy định về công khai hồ sơ định giá đất cụ thể. Ảnh: Minh họa |
Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị cơ quan báo chí địa phương đăng tải công khai nội dung liên quan trên Cổng thông tin điện tử của thành phố, bao gồm Quyết định số 172/QĐ-UBND ngày 15/5/2026 và báo cáo thuyết minh xây dựng phương án giá đất kèm theo Chứng thư định giá đất số 146/TTKTTNMT ngày 14/5/2026.
Theo Quyết định số 172/QĐ-UBND, khu đất được định giá thuộc dự án Khu dân cư Long Hưng, trước đây thuộc xã Long Hưng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, nay là phường Long Hưng, thành phố Đồng Nai. Dự án đã trải qua nhiều đợt giao đất, thuê đất và điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.
Về quy hoạch, khu đất nằm tại phía Bắc Long Hưng, có ranh giới phía Bắc giáp sông Bến Gỗ và xã An Hòa; phía Nam giáp Rạch Cây Ngã và dự án khu đô thị Waterfront; phía Đông giáp sông Bến Gỗ và khu đô thị du lịch Sơn Tiên; phía Tây giáp sông Đồng Nai. Đây là khu vực có vị trí đáng chú ý trong không gian phát triển đô thị ven sông của Đồng Nai.
Tổng diện tích đất cấp khu ở của dự án theo quy hoạch điều chỉnh là hơn 2,169 triệu m². Trong đó, đất ở khoảng 1,039 triệu m², gồm đất chung cư, nhà liên kế, nhà liên kế có sân vườn song lập và biệt thự. Ngoài ra, dự án còn có đất công cộng dịch vụ, đất cây xanh mặt nước, đất giao thông và đất đầu mối hạ tầng kỹ thuật.
Đáng chú ý, cơ cấu đất ở sau điều chỉnh ghi nhận sự thay đổi giữa các loại hình sản phẩm. Diện tích đất nhà liên kế tăng lên hơn 473.500 m², trong khi đất biệt thự giảm còn hơn 321.900 m². Diện tích đất chung cư giữ nguyên ở mức hơn 225.500 m². Việc điều chỉnh này cho thấy cơ cấu phát triển sản phẩm nhà ở tại dự án đã được rà soát lại trên cơ sở quy hoạch được duyệt.
Về kết quả định giá, đối với đất ở tại phân khu 3, giá đất cụ thể trước điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 được xác định ở mức hơn 6,512 triệu đồng/m². Sau điều chỉnh quy hoạch, giá đất cụ thể được xác định ở mức hơn 6,506 triệu đồng/m².
Đối với đất công cộng dịch vụ đô thị phát sinh tăng thêm tại đợt 1, phần diện tích theo quyết định giao đất, cho thuê đất là hơn 48.805 m², với giá đất cụ thể được xác định ở mức hơn 2,741 triệu đồng/m². Các loại đất trong nhóm này gồm đất thương mại dịch vụ, trung tâm hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế, khu xử lý nước thải và trạm BTS.
Tại đợt 2, diện tích đất công cộng dịch vụ đô thị theo quyết định giao đất, cho thuê đất là hơn 69.763 m², cũng được xác định giá đất cụ thể ở mức hơn 2,741 triệu đồng/m². Đây là nhóm đất phục vụ các chức năng công cộng, dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật trong tổng thể dự án.
Riêng đối với đợt 3, giá đất ở nhà liên kế, liên kế song lập và biệt thự được phê duyệt ở mức hơn 6,367 triệu đồng/m²; đất ở chung cư ở mức hơn 12,294 triệu đồng/m². Đất giáo dục và đất thương mại dịch vụ trong đợt này được xác định ở mức hơn 2,811 triệu đồng/m².
Quyết định cũng nêu rõ, giá đất cụ thể được tính toán tương ứng với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt tại các quyết định trước đó của UBND tỉnh Đồng Nai. Trường hợp dự án có thay đổi quy hoạch chi tiết xây dựng làm tăng giá trị đất, hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận phải thực hiện nghĩa vụ tài chính bổ sung, nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện đầy đủ theo kết luận.
Cơ quan thuế sẽ căn cứ giá đất đã được phê duyệt và thông tin do Sở Nông nghiệp và Môi trường chuyển đến để xác định số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính và thu các khoản nộp bổ sung nếu có, đồng thời thông báo cho Liên hiệp Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
Việc phê duyệt giá đất cụ thể cho Khu dân cư Long Hưng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện nghĩa vụ tài chính đất đai của dự án. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan chức năng tiếp tục quản lý, theo dõi việc thực hiện dự án, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong định giá đất và thu ngân sách từ đất đai.