Theo ông Lê Tấn Nam - Chủ tịch Hội Doanh nghiệp khu vực Tây Bắc Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh), thời gian qua Trung ương và TP. Hồ Chí Minh đã rất quyết liệt trong việc đề xuất các ngân hàng giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát tại hội nghị đối thoại cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa ghi nhận chuyển biến rõ rệt, lãi suất vay vốn ngân hàng vẫn neo ở mức cao gây nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh.
![]() |
| Không chỉ làm gia tăng chi phí vốn, lãi suất cao còn làm suy giảm động lực đầu tư, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) – lực lượng chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước. |
Thực trạng phân bổ dòng vốn hiện nay cũng đang bộc lộ nhiều bất cập. Theo ông Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm tỷ trọng rất lớn tại TP. Hồ Chí Minh cũng như trên cả nước. Trong khi đó, một phần đáng kể nguồn vốn tín dụng đang tập trung vào các tập đoàn và doanh nghiệp lớn triển khai các dự án trọng điểm quốc gia, khiến khối SME gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn. Do đó, các doanh nghiệp rất mong chờ những giải pháp hạ nhiệt lãi suất thực chất từ ngành ngân hàng để tập trung sản xuất trong những tháng cuối năm 2026.
Đồng quan điểm, ông Dương Kim Quân - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Bcons, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Xây dựng TP. Hồ Chí Minh cũng cho rằng, chủ trương giảm lãi suất của Chính phủ và ngành ngân hàng là rất tích cực, nhưng trên thực tế chính sách này vẫn "chưa thực sự đi vào cuộc sống". Nhiều đơn vị phải gánh mức lãi suất có thời điểm lên tới 14-15%/năm, tạo áp lực khổng lồ lên dòng tiền.
Đối với các ngành xuất khẩu đặc thù như gỗ và nội thất, chu kỳ vốn kéo dài từ khâu mua nguyên liệu đến khi hoàn thiện sản phẩm càng khiến áp lực tài chính gia tăng. Do đó, ông Phùng Quốc Mẫn - Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế tín dụng phù hợp hơn đối với doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu, đặc biệt là những doanh nghiệp đã có đơn hàng thực, dòng tiền thực và lịch sử tuân thủ tốt.
Nghịch lý dòng tiền tháo chạy khỏi khu vực sản xuất
Một rào cản lớn khác đối với mục tiêu tăng trưởng là mặt bằng lãi suất huy động đang duy trì ở mức cao, vô hình trung tạo ra xu hướng dịch chuyển dòng vốn ngược về kênh an toàn. Chia sẻ tại một hội nghị mới đây, ông Trần Việt Anh - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Nam Thái Sơn nhận định, nếu lãi suất tiền gửi duy trì ở mức gần 10%, nhiều người sẽ đặt câu hỏi liệu có nên tiếp tục đầu tư sản xuất hay chỉ cần gửi tiền ngân hàng.
![]() |
| Mặc dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất, song theo phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, mặt bằng lãi suất cho vay thực tế vẫn neo ở mức cao. |
Ông Trần Việt Anh phân tích thêm: "Nếu lãi suất huy động gần 10% thì nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ sẽ không muốn đầu tư sản xuất nữa. Số lượng doanh nghiệp mới thành lập sẽ ngày càng ít đi, còn những người ngại rủi ro thì càng không muốn khởi nghiệp".
Trong bối cảnh biên lợi nhuận của nhiều ngành sản xuất chỉ quanh mức 15%/năm, mức chênh lệch quá thấp so với lãi suất tiền gửi buộc các chủ doanh nghiệp phải chọn giải pháp an toàn là gửi tiết kiệm để tránh rủi ro pháp lý và áp lực vận hành.
Tác động này hiển hiện rõ nhất ở các nhóm ngành có tỷ lệ cạnh tranh khốc liệt. Đại diện Công ty Kim Minh Long - doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực in bao bì tại TP. Hồ Chí Minh cho rằng, tác động của lãi suất cao không chỉ dừng ở việc làm tăng chi phí vốn mà còn "tự triệt tiêu động lực đầu tư" của doanh nghiệp. Đơn vị này cho biết, đạt được mức lợi nhuận 5% trong bối cảnh hiện tại đã là rất mừng, nên nếu có dòng vốn nhàn rỗi, họ sẽ chọn gửi ngân hàng thay vì tái đầu tư vào nhà xưởng khi phải gánh thêm các chi phí về logistics, hạ tầng và hải quan.
Để khu vực kinh tế tư nhân thực sự bứt phá, các doanh nghiệp kiến nghị cần sớm đưa mặt bằng lãi suất về mức hợp lý và thiết kế các gói tín dụng trung, dài hạn phù hợp. Về giải pháp căn cơ lâu dài, các chuyên gia nhận định cần phát triển cân bằng thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào dòng vốn tín dụng ngắn hạn của hệ thống ngân hàng thương mại.