Tuần qua, giá lúa gạo trong nước tiếp tục tăng, trong khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng nhích lên ở nhiều chủng loại. Số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, tại Đồng bằng sông Cửu Long, lúa thơm tươi tại ruộng có giá cao nhất 5.950 đồng/kg, giá bình quân 5.686 đồng/kg, tăng 96 đồng/kg; lúa thường bình quân 5.461 đồng/kg, tăng 82 đồng/kg. Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 5% tấm được chào ở mức 440-445 USD/tấn, gạo Jasmine ở mức 452-456 USD/tấn, còn gạo 5% tấm dao động 375-380 USD/tấn, cao hơn tuần trước.
![]() |
| Nhà nước đang muốn củng cố vai trò của nhóm doanh nghiệp đầu mối đủ lực giữ hàng trong giai đoạn thị trường biến động. |
Đà tăng này không đến từ một yếu tố đơn lẻ. Khách hàng đang tăng tích trữ vì lo ngại xung đột ở Trung Đông có thể đẩy chi phí cước tàu, nhiên liệu, phân bón và bảo hiểm hàng hải đi lên. Bộ Công Thương cũng nhìn nhận chi phí đầu vào cho sản xuất và vận chuyển vẫn ở mức cao, trong khi các quy định nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn, tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
Vệc giá tăng bao nhiêu mở ra câu hỏi cơ hội sẽ thuộc về ai. Bởi trong một thị trường đang hồi phục nhưng vẫn nhạy cảm với logistics và biến động bên ngoài, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể biến nhịp tăng giá thành lợi nhuận thực. Cơ hội đang nghiêng về ba nhóm rõ nhất: doanh nghiệp có kho và năng lực tạm trữ; doanh nghiệp đã có đầu ra xuất khẩu thực; và doanh nghiệp sở hữu gạo chất lượng cao, gạo xanh, gạo thương hiệu.
Nhóm hưởng lợi đầu tiên là doanh nghiệp có kho chứa, có dòng tiền và đủ sức mua vào lúc cao điểm thu hoạch. Đây không chỉ là lợi thế kinh doanh thông thường, mà đang trùng với hướng điều hành của Chính phủ. Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, ngành hỗ trợ doanh nghiệp thu mua và tạm trữ lúa gạo, mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm chi phí logistics, tạo thuận lợi cho hoàn thuế và nghiên cứu tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp có hệ thống kho chứa, năng lực thu mua lớn. Chỉ đạo này đã cho thấy Nhà nước đang muốn củng cố vai trò của nhóm doanh nghiệp đầu mối đủ lực giữ hàng trong giai đoạn thị trường biến động.
Ở góc độ chuyên gia quản lý ngành, ông Nguyễn Quang Hiếu - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cũng nói khá trúng vấn đề khi cho rằng cần “linh hoạt chính sách thu mua dự trữ, hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu lúa gạo” để ổn định thị trường trong thời điểm thu hoạch rộ. Ông Hiếu cho thấy cơ hội sẽ nghiêng về những doanh nghiệp nào đủ sức đứng ra gom hàng, thay vì để lượng lớn lúa gạo dồn ra thị trường cùng lúc.
Từ góc nhìn đó, các tổng công ty lương thực và những đầu mối xuất khẩu lớn có hệ thống kho bãi rõ ràng đang có lợi thế tương đối. Chỉ đạo của Thủ tướng nêu đích danh Tổng công ty Lương thực miền Bắc và Tổng công ty Lương thực miền Nam cùng các doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải tăng cường thu mua, tận dụng hệ thống kho chứa và năng lực chế biến để hỗ trợ tiêu thụ lúa cho nông dân. Điều đó đồng nghĩa, trong một nhịp giá đi lên nhưng còn nhiều bất định, nhóm doanh nghiệp có kho là nhóm có “quyền chờ giá” tốt hơn.
![]() |
| Trong bối cảnh khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm truy xuất nguồn gốc, phát thải thấp và an toàn thực phẩm, doanh nghiệp nào có sản phẩm khác biệt sẽ có dư địa giá tốt hơn. |
Nhóm thứ hai là doanh nghiệp có thị trường thật, khách hàng thật và đơn hàng thật. Trong bối cảnh xuất khẩu đã nhộn nhịp hơn nhưng chi phí logistics vẫn cao, doanh nghiệp nào đã có tuyến khách hàng sẵn sẽ đi nhanh hơn doanh nghiệp còn chờ đàm phán. Một ví dụ đáng chú ý là Công ty TNHH Việt Hưng. Từ đầu năm đến nay, doanh nghiệp này đã xuất khoảng 20.000 tấn gạo sang Trung Quốc, Hong Kong (Trung Quốc) và châu Phi; kế hoạch năm 2026 là khoảng 150.000 tấn, kim ngạch 80-90 triệu USD. Đây là kiểu doanh nghiệp có thể hưởng lợi sớm khi thị trường hồi nhiệt, vì họ không bắt đầu từ con số 0.
Tuy nhiên, không phải cứ có đầu ra là đã chắc thắng. Chính Việt Hưng cũng từng phản ánh chi phí logistics cao làm khách hàng mua chậm hơn, cho thấy cơ hội hiện nay đi kèm sức ép rất thực tế. Điều đó càng củng cố một điểm quan trọng: doanh nghiệp có thị trường sẽ có lợi thế, nhưng để chuyển lợi thế thành biên lợi nhuận, họ vẫn cần khả năng chốt giá, xoay vòng hàng và kiểm soát chi phí.
Nhóm thứ ba, và có lẽ là nhóm sáng giá nhất về biên lợi nhuận, là nhóm doanh nghiệp bán được gạo chất lượng cao, gạo xanh, gạo thương hiệu. Khi mặt bằng giá quốc tế biến động, nhóm này thường ít bị ép theo cuộc đua giá thấp hơn so với doanh nghiệp chỉ chạy hàng phổ thông. Trường hợp Trung An là ví dụ tiêu biểu. Doanh nghiệp này là đơn vị đầu tiên xuất khẩu lô “Gạo Việt xanh phát thải thấp” sang Nhật Bản thông qua hợp tác với Tập đoàn Murase, mở ra hướng đi mới cho gạo Việt ở phân khúc chất lượng cao, tiêu chuẩn khắt khe.
Điểm đáng chú ý là lợi thế của Trung An không chỉ nằm ở một lô hàng, mà ở chỗ doanh nghiệp này đã đi trước trong mô hình vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng và câu chuyện “gạo xanh.” Trong bối cảnh khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm truy xuất nguồn gốc, phát thải thấp và an toàn thực phẩm, doanh nghiệp nào có sản phẩm khác biệt sẽ có dư địa giá tốt hơn. Đây là lợi thế rất đáng kể khi chi phí vận tải và vật tư đang tăng lên, bởi doanh nghiệp bán ở phân khúc cao cấp thường có khả năng hấp thụ chi phí tốt hơn nhóm bán đại trà.
Nếu mở rộng sang câu chuyện gạo thương hiệu, Lộc Trời cũng là cái tên đáng theo dõi. Theo Bộ Công Thương, doanh nghiệp này đã đặt nền móng xuất khẩu gạo thương hiệu Việt trực tiếp sang châu Âu, đưa sản phẩm vào các hệ thống bán lẻ tại Pháp và Carrefour; riêng năm 2023 xuất sang EU hơn 20.263 tấn, kim ngạch trên 12 triệu USD. Đây chưa phải là căn cứ để khẳng định Lộc Trời sẽ hưởng lợi ngay lập tức trong nhịp tăng giá tuần qua, nhưng rõ ràng là một doanh nghiệp có “vé” ở phân khúc thị trường khó tính thì luôn có vị thế tốt hơn khi thị trường phân hóa mạnh.
Nhìn rộng ra, diễn biến lần này cũng cho thấy một điều quen mà vẫn đáng lưu ý: giá lúa gạo tăng là tin vui, nhưng phần thưởng không tự động chia đều cho cả chuỗi. Nông dân được hưởng lợi khi giá ruộng nhích lên; doanh nghiệp xuất khẩu có thêm tín hiệu tốt khi thị trường sôi động hơn; nhưng người thắng rõ nhất nhiều khả năng vẫn là những đơn vị đủ sức nắm hàng, giữ thị trường và bán được sản phẩm chất lượng cao. Ngược lại, doanh nghiệp thiếu kho, thiếu vốn lưu động, thiếu đơn hàng hoặc chỉ chạy theo gạo phổ thông biên mỏng sẽ khó tận dụng hết nhịp tăng này.
Vì vậy, nếu phải trả lời ngắn gọn câu hỏi “doanh nghiệp nào có cơ hội?”, thì câu trả lời lúc này là: doanh nghiệp có kho để mua và giữ hàng; doanh nghiệp đã có khách hàng và hợp đồng xuất khẩu; doanh nghiệp có gạo thơm, gạo xanh, gạo thương hiệu đủ sức bán vào phân khúc giá cao. Trong bối cảnh hiện nay, đó không chỉ là lợi thế thương mại, mà còn là năng lực sống còn để biến nhịp tăng giá thành kết quả kinh doanh thực sự.