![]() |
| Theo VinaCapital, nhiều cổ phiếu đang bị định giá thấp như thời khủng hoảng. |
70% cổ phiếu giao dịch dưới mức P/E 10 lần
Theo ông Michael Kokalari, CFA, Giám đốc Phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường, VinaCapital, VN-Index hiện giao dịch ở mức P/E dự phóng 13 lần, trong khi tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 được kỳ vọng đạt 15%.
Nếu nhìn chi tiết, hơn 70% cổ phiếu trên thị trường đang giao dịch dưới mức P/E 10 lần – mức định giá thấp thường chỉ xuất hiện trong các giai đoạn khủng hoảng, như thể hiện trong biểu đồ bên dưới.
“Đà tăng mạnh của nhóm cổ phiếu thuộc hệ sinh thái Vingroup (chiếm gần 30% vốn hóa VN-Index), làm phần còn lại của thị trường đang có định giá tương đương như giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn trái ngược với thực tế vì nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì sức chống chịu tốt và xuất khẩu công nghệ cao tiếp tục tăng mạnh”, ông Michael Kokalari nhận định.
![]() | |
|
Dù thị trường hiện đang đối mặt với một số khó khăn, gồm: gián đoạn vận tải kéo dài tại Eo biển Hormuz; thâm hụt thương mại của Việt Nam tăng từ 3% GDP trước chiến sự lên trên 6% GDP vào giữa tháng 5; lạm phát vượt 5%, tạo áp lực lên lãi suất; và dòng vốn ngoại tiếp tục rút ròng, với khoảng 2 tỷ USD giá trị cổ phiếu Việt Nam bị bán ròng từ đầu năm đến nay, VinaCapital tin rằng Chính phủ Việt Nam có đủ năng lực ứng phó với các thách thức này.
VinaCapital cũng cho rằng chiến lược “ngoại giao cây tre” đã giúp Việt Nam bảo đảm đủ nguồn cung dầu, qua đó hạn chế đáng kể tác động tiêu cực từ cuộc chiến, trái ngược với tình hình tại Ấn Độ, Indonesia và Philippines.
Một trong những lý do Việt Nam có thể đảm bảo nguồn cung năng lượng là cả Trung Quốc và Nhật Bản đều có động lực kinh tế để duy trì hoạt động của các nhà máy tại Việt Nam. Nhiều nhà máy trong số này sản xuất hàng công nghệ cao. Theo đó, xuất khẩu máy tính và điện tử của Việt Nam tăng gần 50% trong năm nay, sau khi cũng tăng gần 50% trong năm ngoái.
Thâm hụt thương mại chủ yếu phản ánh đà tăng mạnh của hoạt động xuất khẩu liên quan đến AI. Đây cũng là lý do tỷ giá VND chưa chịu áp lực giảm đáng kể, dù mức thâm hụt hiện tại nhìn bề ngoài có thể gây lo ngại.
Lợi nhuận quý 1/2026 vượt xa dự báo
Lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết tăng 51% so với cùng kỳ trong quý 1/2026, vượt xa mức kỳ vọng đồng thuận của thị trường là 15%. Đà tăng này một phần đến từ Vinhomes (VHM). Tuy nhiên, ngay cả khi loại trừ VHM, lợi nhuận vẫn tăng khoảng 30% – gấp đôi kỳ vọng thị trường.
“Các rủi ro vẫn hiện hữu, cũng như tác động đối với kinh tế toàn cầu từ xung đột Mỹ - Iran, nhưng phần lớn thị trường hiện vẫn đang giao dịch ở vùng định giá tương đương như trong giai đoạn khủng hoảng, dù nền tảng cơ bản của nhiều doanh nghiệp vẫn vững chắc”, Michael Kokalari phân tích.
![]() |
| Nguồn: VinaCapital. |
Năm ngoái, VN-Index tăng khoảng 41%, nhưng nếu loại trừ nhóm cổ phiếu liên quan đến Vingroup, mức tăng chỉ còn khoảng 10%.
Trong năm nay, VN-Index tiếp tục vượt trội so với chỉ số không bao gồm nhóm Vingroup khoảng 4-5 điểm phần trăm. Qua đó nới rộng chênh lệch định giá giữa VN-Index – đang giao dịch ở mức P/E 13 lần với tăng trưởng lợi nhuận 15% – và phần còn lại của thị trường – đang giao dịch ở mức P/E 10 lần với tăng trưởng lợi nhuận 16%.
Bên cạnh định giá hấp dẫn của nhóm ngân hàng với P/B 1,3 lần, ROE ở mức 2 con số, các cổ phiếu tiêu dùng, công nghệ thông tin và năng lượng cũng đang giao dịch ở vùng định giá tương đối thấp – trong nhiều trường hợp dưới mức trung bình 5 năm.
Đà tăng trưởng lợi nhuận của VN-Index nhiều khả năng sẽ chậm lại khi tác động kinh tế của chiến sự Trung Đông dần lan tỏa, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn được dự báo sẽ gây sức ép lên biên lợi nhuận của các ngân hàng trong những tháng còn lại của năm.
Tuy nhiên, mục tiêu của báo cáo này nhằm nhấn mạnh định giá của phần lớn thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở mức tương đương như trong thời kỳ khủng hoảng — trái ngược với các điều kiện kinh tế thực tế nhìn chung vẫn ổn định.
Bên cạnh đó, Việt Nam đang triển khai một loạt cải cách trên diện rộng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng các tiêu chí liên quan đến việc được đưa vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE, cũng như tháo gỡ để tái khởi động các dự án bất động sản bị đình trệ...
VinaCapital cho rằng thị trường chứng khoán vẫn chưa phản ánh đầy đủ tác động của các cải cách này, do lợi ích sẽ được hiện thực hóa dần theo thời gian thông qua thanh khoản cải thiện, số lượng doanh nghiệp niêm yết gia tăng, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và việc tái khởi động các dự án chậm tiến độ.
Thâm hụt thương mại ở mức chấp nhận được
Xuất khẩu công nghệ cao của Việt Nam tăng 49% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2026, tiếp nối mức tăng 48% của năm trước, nhờ nhu cầu tăng cao đối với các sản phẩm liên quan đến AI.
Tuy nhiên, thâm hụt thương mại của Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi, từ mức 3% GDP trước chiến sự lên trên 6% GDP vào giữa tháng 5 (tương đương khoảng 13 tỷ USD tính đến giữa tháng 5).
Chiến sự Trung Đông góp phần làm thâm hụt thương mại Việt Nam hơn 2 điểm phần trăm, do giá dầu và giá trị đồng Nhân dân tệ đều tăng mạnh (Việt Nam nhập hơn một phần ba nguyên vật liệu đầu vào từ Trung Quốc nhằm sản xuất hàng xuất khẩu).
Tuy vậy, phần lớn thâm hụt thương mại hiện nay của Việt Nam chủ yếu xuất phát từ việc gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất và tư liệu vốn phục vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Liên quan đến điểm trên, các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực công nghệ cao đang gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị sản xuất được sử dụng để sản xuất các linh kiện có độ chính xác cao. Đây là một điểm quan trọng nhưng khá tinh tế, giúp lý giải vì sao thị trường tiền tệ và chứng khoán phần nào không quá lo ngại trước mức tăng gần đây của thâm hụt thương mại.
Cụ thể, việc nhập khẩu các linh kiện như chip và kính chuyên dụng thường dùng trong sản xuất điện thoại thông minh thường được đưa vào sản xuất và tiêu thụ trong vòng 3–4 tháng kể từ khi nhập khẩu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI (đặc biệt là các công ty công nghệ cao Trung Quốc) hiện tăng cường nhập khẩu nhiều máy móc và thiết bị dùng để sản xuất để sản xuất những linh kiện như loại kính chuyên dụng nêu trên.
Thời gian hoàn vốn để sử dụng các tư liệu sản xuất này nhằm sản xuất hàng xuất khẩu cuối cùng, qua đó bù đắp chi phí thiết bị trong cán cân thương mại của Việt Nam, kéo dài hơn đáng kể so với chu kỳ 3–4 tháng của các linh kiện đầu vào dùng để sản xuất hàng công nghệ cao. Điều này tạo ra hiệu ứng “đường cong J”, trong đó cán cân thương mại ban đầu xấu đi, trước khi cải thiện trở lại khi các máy móc, thiết bị và linh kiện nhập khẩu được đưa vào sản xuất hàng xuất khẩu.