Theo báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình vay và trả nợ công tháng 4/2026, huy động vốn của Chính phủ tiếp tục bám sát kế hoạch, với trái phiếu Chính phủ giữ vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực.
Trong tháng 4/2026, khối lượng phát hành trái phiếu Chính phủ đạt 45.455 tỷ đồng, tương đương 9,1% kế hoạch đấu thầu cả năm (500.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, diễn biến căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đã phần nào tác động đến tâm lý thị trường, khiến mức độ tham gia đấu thầu trên thị trường sơ cấp suy giảm. Tính đến ngày 27/4, tổng khối lượng gọi thầu đạt 58.000 tỷ đồng nhưng giá trị đăng ký dự thầu chỉ hơn 37.000 tỷ đồng.
![]() |
Về cơ cấu nhà đầu tư, khối bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng lớn nhất với 56,2%, tiếp đến là các ngân hàng thương mại (32,4%) và các định chế tài chính khác. Kỳ hạn phát hành bình quân đạt 9,96 năm, tăng nhẹ so với cuối năm 2025, trong khi lãi suất phát hành bình quân ở mức 4,09%/năm, tăng 0,81 điểm phần trăm. Thời gian đáo hạn bình quân của danh mục trái phiếu đạt 8,41 năm.
Đối với nguồn vốn vay nước ngoài, trong tháng 4/2026 không phát sinh hiệp định vay mới. Lũy kế từ đầu năm, Chính phủ ký kết một khoản vay trị giá 50 tỷ Yên (tương đương khoảng 323,2 triệu USD). Hoạt động giải ngân trong tháng đạt khoảng 792 tỷ đồng, nâng tổng giá trị giải ngân vốn vay nước ngoài 4 tháng lên 7.085 tỷ đồng.
Tổng hợp cả nguồn trong nước và nước ngoài, riêng tháng 4/2026, Chính phủ huy động khoảng 46.247 tỷ đồng, trong đó phần lớn (45.833 tỷ đồng) phục vụ cân đối ngân sách trung ương. Lũy kế 4 tháng, tổng vốn vay đạt 132.641 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, nghĩa vụ trả nợ tiếp tục ở mức cao. Trong tháng 4/2026, tổng số tiền trả nợ của Chính phủ đạt 32.111 tỷ đồng, trong đó phần trả nợ trực tiếp của ngân sách trung ương chiếm 30.459 tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng, tổng nghĩa vụ trả nợ lên tới 172.865 tỷ đồng, tương đương 32,5% kế hoạch năm, bao gồm 163.982 tỷ đồng trả nợ trực tiếp và 8.883 tỷ đồng từ các khoản cho vay lại.
Liên quan đến nợ được Chính phủ bảo lãnh, trong tháng 4 không phát sinh phát hành trái phiếu mới tại các ngân hàng chính sách. Dư nợ bảo lãnh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam duy trì khoảng 71.261 tỷ đồng, trong khi tại Ngân hàng Chính sách xã hội khoảng 72.981 tỷ đồng.
Ở cấp địa phương, không phát sinh hoạt động vay mới qua phát hành trái phiếu hay tạm ứng ngân quỹ nhà nước. Tuy nhiên, các địa phương vẫn tiếp tục tiếp cận nguồn vốn vay lại từ Chính phủ, với giá trị rút vốn trong tháng đạt khoảng 402 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đạt 1.901 tỷ đồng.
Dù chênh lệch giữa vay và trả nợ tạo áp lực nhất định lên cân đối ngân sách trong ngắn hạn, Bộ Tài chính cho biết các chỉ tiêu an toàn nợ công vẫn nằm trong ngưỡng kiểm soát. Cụ thể, tỷ lệ nợ công so với GDP ước khoảng 35–36% (so với trần 60%); nợ Chính phủ ở mức 33–34% GDP (trần 50%); nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 28–29% GDP (trần 50%).
Đồng thời, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước dao động 20–21%, dưới ngưỡng 25% cho phép. Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chỉ khoảng 4–5%, thấp hơn đáng kể so với mức cảnh báo 25%.
Trong bối cảnh toàn cầu, theo báo cáo tài khóa cập nhật của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nợ công thế giới đã lên tới gần 94% GDP trong năm 2025 và có thể vượt 100% GDP vào năm 2029. Các yếu tố bất định địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, được dự báo sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí năng lượng, lương thực và ngân sách quốc phòng, qua đó làm gia tăng rủi ro đối với triển vọng tài khóa toàn cầu.