Theo số liệu được công bố ngày 26/10/2026, trong tháng 10, dịch tả lợn châu Phi phát sinh tại 67 hộ thuộc 19 thôn của 5 xã, khiến 462 con lợn phải tiêu hủy, với tổng trọng lượng hơn 23,5 tấn. Lũy kế 10 tháng, toàn tỉnh Lào Cai ghi nhận 2.677 con lợn bị tiêu hủy tại 34 xã.
Diễn biến này cho thấy nguy cơ dịch bệnh vẫn hiện hữu, gây áp lực lên hoạt động sản xuất và thu nhập của người chăn nuôi. Với những hộ quy mô nhỏ, thiệt hại đàn vật nuôi có thể kéo theo khó khăn về vốn, chi phí tái đàn và khả năng duy trì sinh kế.
Trong khi đó, chăn nuôi an toàn sinh học đòi hỏi người dân đầu tư chuồng trại phù hợp, kiểm soát nguồn giống, vệ sinh và khử trùng, quản lý thức ăn, nước uống và xử lý chất thải. Những yêu cầu này cần được thực hiện thường xuyên, nhưng không phải hộ nào cũng đủ nguồn lực và kiến thức để đáp ứng.
Vì vậy, phòng dịch cần gắn với tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng lực của người chăn nuôi và tăng cường hướng dẫn kỹ thuật. Nếu chỉ vận động người dân thay đổi phương thức chăn nuôi mà thiếu hỗ trợ phù hợp, hiệu quả chuyển đổi sẽ khó bền vững.
![]() |
| Người dân xã Gia Hội phun hóa chất tiêu độc, khử trùng chuồng trại để ngăn chặn dịch bệnh, bảo vệ đàn vật nuôi. (Ảnh: Anh Dũng) |
Theo số liệu công bố về thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi hàng hóa tại Lào Cai, đến ngày 7/10/2026, toàn tỉnh có 1.333 cơ sở đăng ký tại 42 xã, phường; 762 cơ sở đang triển khai, 386 cơ sở đã được nghiệm thu và 225 cơ sở đã được giải ngân, với tổng kinh phí hơn 9 tỷ đồng.
Chính sách tập trung hỗ trợ phát triển các loại vật nuôi như lợn, trâu, bò, gia cầm, dê, cùng những hạng mục xử lý chất thải và xây dựng công trình khí sinh học.
Các số liệu cho thấy quá trình triển khai đang ở nhiều giai đoạn khác nhau. Do đó, bên cạnh việc bảo đảm giải ngân đúng quy định, cần hướng dẫn các cơ sở hoàn thiện thủ tục, đáp ứng điều kiện kỹ thuật và sớm đưa công trình, mô hình vào hoạt động.
Hiệu quả chính sách không chỉ nằm ở số cơ sở đăng ký hay kinh phí đã giải ngân, mà còn cần được đánh giá qua khả năng duy trì sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và cải thiện thu nhập sau đầu tư. Hỗ trợ chăn nuôi vì thế cần gắn với hướng dẫn an toàn sinh học, dịch vụ thú y và khả năng tiếp cận thị trường.
![]() |
| Hộ dân xã Nghĩa Tâm đăng ký hỗ trợ mô hình nuôi 15 lợn nái sinh sản, chủ động xây dựng, hoàn thiện chuồng trại theo yêu cầu kỹ thuật trước khi triển khai. (Ảnh: Anh Dũng) |
Đối với hộ chăn nuôi nhỏ, việc tự tìm nguồn giống, mua thức ăn, tiếp cận kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm thường gặp nhiều hạn chế. Đây là khoảng trống mà HTX có thể góp phần khắc phục thông qua tập hợp các hộ, tổ chức dịch vụ đầu vào, phổ biến quy trình kỹ thuật và kết nối thị trường.
Khi hoạt động thực chất, HTX có thể phối hợp với cơ quan chuyên môn hướng dẫn thành viên vệ sinh chuồng trại, kiểm soát dịch bệnh, quản lý nguồn gốc vật nuôi và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, để làm được điều đó, HTX cần có năng lực quản trị, phương án sản xuất khả thi và đội ngũ tổ chức hoạt động hiệu quả.
Doanh nghiệp cũng có vai trò quan trọng trong cung ứng con giống, thức ăn, chuyển giao kỹ thuật, thu mua, chế biến và phân phối sản phẩm. Liên kết với doanh nghiệp có thể giúp HTX và hộ chăn nuôi từng bước nâng cao chất lượng, ổn định đầu ra và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Để liên kết bền vững, các bên cần thống nhất tiêu chuẩn sản phẩm, phương thức giao nhận, nguyên tắc xác định giá và trách nhiệm khi xảy ra rủi ro. Việc hợp tác phải dựa trên lợi ích thực chất, không chỉ dừng ở ký kết thỏa thuận.
Lào Cai cần tiếp tục kết hợp chính sách hỗ trợ với công tác phòng dịch, hướng dẫn kỹ thuật và phát triển thị trường. Hộ dân cần chủ động thực hiện an toàn sinh học; HTX nâng cao năng lực tổ chức sản xuất; doanh nghiệp tăng cường liên kết minh bạch, ổn định. Cơ quan quản lý có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát và đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách.
Khi các chủ thể cùng tham gia, người chăn nuôi có thêm điều kiện giảm rủi ro, HTX phát huy vai trò kết nối, còn doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn cung và chất lượng. Đây là nền tảng để chăn nuôi Lào Cai phát triển theo hướng hàng hóa, an toàn và bền vững.
