Tăng năng lực sản xuất
Bộ Công Thương đã thông qua các biện pháp thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị (số 23-NQ / TW) về chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nhờ đó, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất trong nước và toàn cầu.
Báo cáo của Cục Công nghiệp Việt Nam (VIA) thuộc Bộ Công Thương cho thấy, số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chiếm gần 4,5% tổng số doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, với doanh thu thuần đạt hơn 900 nghìn tỷ đồng, đóng góp khoảng 11%. trong tổng doanh thu của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. “Đáng chú ý, một số doanh nghiệp Việt Nam có năng lực sản xuất khuôn mẫu khá tốt; linh kiện xe đạp, xe máy; thành phần cơ khí tiêu chuẩn; dây cáp điện; Linh kiện nhựa, săm lốp các loại không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới ”, VIA cho biết.
Tỷ lệ nội địa hóa của một số ngành cũng được cải thiện. Ví dụ, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành công nghiệp điện tử dao động từ 30-35% trong sản xuất thiết bị điện tử và 40% phục vụ ngành công nghiệp ô tô-xe máy. Trong ngành sản xuất, lắp ráp ô tô, một số mẫu xe đạt tỷ lệ nội địa hóa cao, vượt mục tiêu ngành ô tô trong nước đề ra.

Chính sách hỗ trợ
Phát triển các ngành công nghiệp hạ nguồn cũng góp phần quan trọng trong việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào các dự án quy mô lớn tại Việt Nam. Thúc đẩy ngành sản xuất, lắp ráp thành phẩm sẽ được duy trì và mở rộng, tạo cơ sở để các doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung cấp và tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp ở khâu cuối cùng này.
Theo đó, Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong các ngành hạ nguồn then chốt như ô tô, điện-điện tử, dệt may, da giầy trở thành các tập đoàn có quy mô lớn trong khu vực, tạo tác động lan tỏa và dẫn dắt sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật để bảo vệ người sản xuất và người tiêu dùng trong nước, tăng cường kiểm tra hàng công nghiệp nhập khẩu và việc sử dụng các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường trong nước phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế.
Cuối cùng, Việt Nam cần xây dựng chính sách thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng linh kiện, phụ tùng linh kiện nhập khẩu linh hoạt, phù hợp, từ đó giúp doanh nghiệp làm ra thành phẩm, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp về tiếp cận vốn và khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hạ nguồn sẽ tạo ra dung lượng thị trường đủ lớn để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, giúp họ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và kỹ thuật trong chuỗi sản xuất trong nước và toàn cầu.
Mai Anh
