Thứ ba 20/10/2026 23:54
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Bất động sản “bất động”, ngành vật liệu xây dựng gặp khó

Theo Bộ Xây dựng, năm 2023 cả nước có khoảng 1.200 dự án bất động sản bị vướng mắc thủ tục pháp lý, trong đó TP.HCM vướng 148 dự án, mới được tháo gỡ 44 dự án. Nguồn cung bất động sản ra thị trường nhỏ giọt kéo theo hàng loạt ngành công nghiệp phụ trợ như vật liệu xây dựng, xây dựng gặp khó khăn.

Ngành vật liệu xây dựng gặp nhiều khó khăn

Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng, trong 10 năm gần đây, tổng năng lực sản xuất các loại VLXD chủ lực của Việt Nam đã tăng trưởng đạt khoảng 120 triệu tấn xi măng, 830 triệu m2 gạch ốp lát, 26 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, 330 triệu m2 kính xây dựng, 20 tỷ viên gạch đất sét nung, 12 tỷ viên gạch không nung (quy tiêu chuẩn).

Theo ông Nguyễn Văn Sinh - Thứ trưởng Bộ Xây dựng, hiện nhu cầu sử dụng VLXD trong xây dựng ở nước ta vẫn còn rất lớn vì diện tích nhà ở toàn quốc vẫn còn thấp, tỷ lệ đô thị hóa mới đạt khoảng 43%, hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn chưa phát triển hoàn thiện, trong khi mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa quốc gia đến năm 2050 là 70 - 75% và diện tích sàn xây dựng hàng năm cần tăng tối thiểu hơn 20 triệu m2.

“3 năm trở lại đây, ngành VLXD nước ta đang gặp nhiều khó khăn, sản lượng tiêu thụ và doanh thu giảm sút, dẫn đến nguy cơ tác động đến nền kinh tế và sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, ông Sinh cho biết.

Bất động sản “bất động” ngành vật liệu xây dựng thoi thóp
Xi măng là một trong những mặt hàng bị sụt giảm sản lượng nghiêm trọng do thiếu các dự án lớn.

Hiện, ngành Xi măng có 92 dây chuyền, với tổng công suất 122,34 triệu tấn/năm, trong đó có 4 dây chuyền tổng công suất 11,4 triệu tấn xi măng/năm đã đầu tư xong nhưng chưa vận hành, do không tiêu thụ được sản phẩm.

Từ năm 2023 đến nay, sản xuất clinker và xi măng sụt giảm nghiêm trọng. Tổng sản lượng sản xuất cả năm 2023 chỉ đạt 92,9 triệu tấn, các dây chuyền hoạt động trung bình toàn ngành chỉ đạt 75% tổng công suất thiết kế.

Trong năm 2023, có 42 dây chuyền phải dừng hoạt động sản xuất khoảng 1- 6 tháng, trong đó một số dây chuyền phải dừng cả năm. 6 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng sản xuất clinker và xi măng toàn quốc đạt khoảng 44 triệu tấn xi măng, tương đường cùng kỳ năm 2023. Các nhà máy dự kiến đạt 70 -75% tổng công suất thiết kế, tồn kho lũy kế khoảng 5 triệu tấn.

Bất động sản “bất động” ngành vật liệu xây dựng thoi thóp
Doanh nghiệp sản xuất thiết bị vệ sinh cao cấp cũng gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm.

Hiện nước ta có 26 doanh nghiệp sứ vệ sinh với 65 dây chuyền sản xuất, tổng công suất 26 triệu tấn sản phẩm/năm; tổng mức đầu tư xây dựng các nhà máy sứ ước theo giá trị hiện hành khoảng 25.000 tỷ đồng. Sản lượng sứ vệ sinh tăng, giai đoạn trước năm 2019 tiêu thụ khá tốt; nhưng từ năm 2020 đến nay tiêu thụ sản phẩm này giảm mạnh.

Tổng mức đầu tư xây dựng các nhà máy kính ước 50.000 tỷ đồng, tổng năng lực sản xuất toàn ngành kính đạt 5.900 tấn/ngày, tương đương 331 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm. Từ năm 2023 đến nay, có 3 dây chuyền phải dừng sản xuất trên 6 tháng, 1 dự án dừng chưa triển khai xây dựng; tiêu thụ sản phẩm kính giảm mạnh từ năm 2022; năm 2023 giảm 33% so với năm 2020.

Doanh nghiệp nhỏ thoi thóp

Ông Lê Nam Hải – Chủ tịch Hội Vật liệu Xây dựng Miền Nam cho biết: Hội Vật liệu Xây dựng Miền Nam là sân chơi cho các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng khu vực phía Nam, Hội có khoảng 3.000 hội viên, nhưng sau một thời gian dài kinh tế suy thoái, đại dịch covid, thị trường bất động sản nằm im không ra các dự án mới, những doanh nghiệp nhỏ mới thực sự thấm đòn. Theo thống kê, hiện nay có hơn 1.000 doanh nghiệp đã đóng cửa, không hoạt động, sản xuất cầm chừng. Bản thân những người trong Ban chấp hành Hội đang cùng các doanh nghiệp đi xúc tiến đầu tư tại các tỉnh tìm đầu ra cho sản phẩm, cũng như liên kết để cam kết làm ra sản phẩm chất lượng, ổn định và không phá giá, giảm chất lượng sản phẩm để giữ chân khách hàng.

Đại diện Công ty CP Xây dựng dịch vu thương mại Quy Đồng – một công ty có gần 20 năm làm đại lý xi măng cho các công ty xi măng cho biết: Kể từ sau 2019 đến nay sản lượng xi măng cung cấp ra thị trường của công ty ngày càng sụt giảm. Giờ chỉ còn 30.000 tấn/tháng, giảm 50% so với trước. Vừa khó khăn về thị trường tiêu thụ, chúng tôi phải đối mặt với công nợ ngày càng lớn.

Còn ông Lê Văn Tân- TGĐ Công ty Thiết bị vệ sinh Tân Phương chia sẻ: Sau 2 năm đại dịch covid cộng với ngành bất động sản không có nhiều dự án mới xây dựng nên công ty chúng tôi đã đóng cửa 5 showroom, nhà máy cũng không sản xuất nữa vì hàng tồn kho lớn, càng sản xuất ra càng lỗ.

Ông Lê Viết Hải – Chủ tịch Hội Vật Liệu Xây dựng TP.HCM cũng nhận định tình hình chung với không khí ảm đạm, ngoài ngành xây dựng bị ảnh hưởng nặng nề thì ngành vật liệu xây dựng cũng bị thiệt hại về doanh số, doanh thu, sản lượng làm ra tiêu thụ không được ước tính đến 30%. Với những doanh nghiệp xuất khẩu thì đỡ hơn.

Doanh nghiệp lớn liêu siêu

Ông Đào Nguyên Khánh – Trưởng bộ phận Phát triển bền vững và Truyền thông doanh nghiệp, Công ty Xi măng INSEE cho biết: Có thể nói trong 5 năm trở lại đây, ngành xi măng nói riêng và vật liệu xây dựng nói chung luôn gặp những thách thức rất lớn, từ đại dịch COVID-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, giá nguyên nhiên liệu (cụ thể là giá than) tăng phi mã, cho đến việc thị trường BĐS đóng băng như hiện nay. Riêng ngành xi măng, nhu cầu nội địa trong nước đã giảm khoảng hơn 40% vào năm 2023, chưa thấy có dấu hiệu phục hồi vào năm 2024 và chúng tôi cũng chịu ảnh hưởng rất lớn theo xu hướng chung của ngành.

Khủng hoảng này đã buộc Xi măng INSEE phải xem xét lại chi phí và nguồn lực của mình một cách toàn diện bằng cách đưa ra nhiều quyết định khó khăn nhưng cần thiết trong năm 2023, bao gồm cả việc tạm dừng một trạm nghiền, sắp xếp lại tổ chức, hoãn các đầu tư không cần thiết, tái đàm phán với các nhà cung cấp, quản trị chặt chẽ chi phí khắp các bộ phận, giảm mạnh các tồn kho nguyên vật liệu… Mặt khác, công ty phát động tăng cường triển khai các sáng kiến nhằm tiết giảm chi phí, thúc đẩy mạnh mẽ tỷ lệ nhiệt thay thế (TSR) nhằm giảm chi phí tiêu thụ nhiệt. Chính nhờ các hành động quyết liệt sớm mà bước sang năm 2024, xi măng INSEE đã cải thiện đáng kể cơ cấu chi phí và nâng cao hiệu suất hoạt động của mình, mặc dù tình hình của ngành xi măng vẫn tồn tại rất nhiều thách thức.

Đề xuất giải pháp tháo gỡ

Ông Lê Viết Hải đề xuất, Chính phủ nên tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu, tháo gỡ khó khăn về pháp lý với các dự án bất động sản, cho công nhân có việc làm, sản phẩm vật liệu được tiêu thụ. Các doanh nghiệp nên mua bán sát nhập để doanh nghiệp nhỏ dựa vào tài chính công nghệ kỹ thuật của doanh nghiệp lớn, tồn tại qua giai đoạn khó khăn này

Bất động sản “bất động” ngành vật liệu xây dựng thoi thóp
Ông Eamon Ginley – Tổng Giám đốc Công ty Xi măng INSEE đề xuất kiến nghị các giải pháp với Thủ tướng Chính phủ.

Ông Eamon Ginley – Tổng Giám đốc Công ty Xi măng INSEE đã có ý kiến đề xuất tại Hội nghị tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng do Thủ tướng Phạm Minh chủ trì cùng các bộ ngành vào tháng 6 năm 2024.

Theo ông Eamon Ginley, các dự án cơ sở hạ tầng nên tạo điều kiện cho các loại xi măng có hệ số clinker thấp được sử dụng, tất nhiên phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về xây dựng và tiêu chuẩn xây dựng. Các dự án của Chính phủ không nên chỉ giới hạn ưu tiên sử dụng xi măng OPC, khi mà xi măng hỗn hợp PCB tốt hơn cho môi trường, thường có đặc tính bền sunfat tốt hơn và có khả năng tương đương (hoặc thậm chí vượt trội) so với OPC trong hầu hết các ứng dụng; Hỗ trợ tạo lập thị trường cho hoạt động đồng xử lý trong lò nung xi măng. Chính Phủ xem xét hoạt động đồng xử lý sẽ được công nhận là một trong những giải pháp đáp ứng cho EPR (Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) đối với các loại nhựa có giá trị thấp. Lý do đề xuất giải pháp này là vì hiện nay đồng xử lý đã có sẵn ở Việt Nam và ít nhất đây là giải pháp tối ưu tạm thời để tái chế các vật liệu nhựa giá trị thấp, tạo ra một vòng đời mới cho sản phẩm. Điều này sẽ góp phần tạo ra một thị trường chất thải khả thi để các lò nung xi măng tham gia và cho phép một lượng lớn chất thải được đồng xử lý một cách có trách nhiệm.

Tin bài khác
Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 dự kiến 1500 đại biểu tham dự

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 dự kiến 1500 đại biểu tham dự

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 (AEF 2026) sẽ diễn ra từ ngày 26 đến 29/10 tại TP. Hồ Chí Minh, dự kiến quy tụ hơn 1.500 đại biểu trong nước và quốc tế, thúc đẩy đối thoại chính sách, kết nối đầu tư, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Sửa Luật Điện lực: Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, bảo đảm an ninh cung cấp điện

Sửa Luật Điện lực: Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, bảo đảm an ninh cung cấp điện

Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực nhằm tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đầu tư, năng lượng tái tạo và giá điện; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục hành chính, tạo cơ sở pháp lý cho phát triển nguồn và lưới điện trong tình hình mới.
Bộ Công Thương điều chỉnh quy hoạch dự trữ xăng dầu, mở hướng cung ứng sang Lào

Bộ Công Thương điều chỉnh quy hoạch dự trữ xăng dầu, mở hướng cung ứng sang Lào

Điều chỉnh quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu quốc gia tập trung vào ba nhiệm vụ: tăng năng lực dự trữ dầu thô, bổ sung hạ tầng phục vụ nhu cầu trong nước và mở rộng kết nối cung ứng xuyên biên giới.
Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Bộ Chính trị đồng ý chủ trương cho Khu kinh tế Dung Quất áp dụng các cơ chế, chính sách đang được áp dụng đối với khu thương mại tự do tại Hải Phòng, Đà Nẵng và các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất theo quy định được nêu trong chủ trương.
Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Dự án hạ tầng 3.525 tỷ đồng tại vị trí số 7 bổ sung một mắt xích vào Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Tiềm năng thu hút đầu tư sẽ phụ thuộc tiến độ hạ tầng, kết nối logistics và khả năng lấp đầy bằng các dự án có giá trị gia tăng cao.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thảo luận về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) sáng 19/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu đồng bộ quy định về đấu giá với pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đấu thầu. Việc hoàn thiện luật không chỉ nhằm chuẩn hóa trình tự, thủ tục đấu giá mà còn góp phần quản lý, điều tiết giá nhà ở xã hội và nhà cho thuê, tạo điều kiện để người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở.
Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng Chính Lê Minh Hưng nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải đi cùng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đây là nền tảng để bảo đảm thành quả phát triển không bị bào mòn bởi giá cả tăng cao.
Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Sau lễ ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA), hợp tác Việt Nam – Thụy Sĩ đứng trước cơ hội mở rộng sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Trọng tâm tiếp theo là kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo để chuyển định hướng hợp tác thành dự án, công nghệ và năng lực sản xuất cụ thể.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát dưới 4,5%, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề nghị rà soát, điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, trong đó giá điện cần được nghiên cứu theo hướng giảm, chỉ xem xét tăng khi chi phí đầu vào phát sinh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Tại phiên thảo luận tổ ngày 18/10, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu chủ động kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời nghiên cứu giải pháp giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA mở thêm dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Iceland, nhất là trong thương mại, đầu tư và năng lượng. Hai nước nhất trí tăng cường phối hợp, thúc đẩy các thủ tục cần thiết để sớm đưa Hiệp định vào thực tiễn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác hiệu quả những cơ hội mới.
Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Sự kiện Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) là dấu mốc quan trọng, mở thêm cánh cửa tiếp cận các thị trường có sức mua cao, đồng thời tạo cơ hội thu hút vốn, công nghệ và mở rộng cơ hội việc làm. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng tận dụng ưu đãi và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.