Thứ hai 21/09/2026 00:39
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

ADB cảnh báo quan trọng cho Việt Nam giai đoạn 2025-2026

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu rơi vào vòng xoáy bất định, với thuế quan cao nhất kể từ thập niên 1930, các chuỗi cung ứng phân mảnh và rủi ro địa chính trị ngày càng leo thang, báo cáo Triển vọng Kinh tế Châu Á do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) – Văn phòng Nghiên cứu Việt Nam (VRM) công bố đã đưa ra những cảnh báo quan trọng cho giai đoạn 2025–2026. Dù Việt Nam vẫn được ghi nhận giữ được nền tảng vĩ mô ổn định, lạm phát thấp và cầu nội địa tăng trưởng đều, song thách thức mới đặt ra cho cộng đồng doanh nghiệp là không còn có thể dựa duy nhất vào lợi thế “xuất khẩu chi phí thấp”.

Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập chia sẻ từ góc nhìn của chuyên gia, sẽ phân tích năm trọng tâm lớn: bức tranh toàn cầu và kỷ nguyên thuế quan mới; nền tảng vĩ mô và điểm sáng Việt Nam; triển vọng tăng trưởng và lạm phát 2025–2026; tác động thực tế tới các ngành và doanh nghiệp; cùng những chiến lược, kiến nghị cấp thiết để doanh nghiệp Việt Nam bước qua thời kỳ nhiều sóng gió nhất của thương mại toàn cầu kể từ khủng hoảng tài chính 2008.

Bức tranh thương mại quốc tế năm 2025 gợi nhớ những ngày đen tối của thập niên 1930: thuế quan trung bình tại Mỹ đã chạm đỉnh mới, cao nhất trong gần một thế kỷ. Điều này tạo ra hiệu ứng “đẩy hàng trước thuế”, khi nhiều tập đoàn tăng tốc xuất khẩu trước thời điểm thuế mới có hiệu lực, nhưng không che lấp được sự thật rằng chi phí giao dịch toàn cầu đã tăng lên vĩnh viễn.

Thế giới trong kỷ nguyên thuế quan cao
Thế giới trong kỷ nguyên thuế quan cao

Với châu Á – khu vực vốn giữ vai trò “đầu tàu thương mại thế giới”, cú sốc này đi kèm với sự suy yếu trong đầu tư và tiêu dùng nội địa tại nhiều nền kinh tế lớn. Các ngành công nghệ cao, từng hưởng lợi từ nhu cầu tăng vọt trong đại dịch, nay chỉ còn trụ vững nhờ tận dụng cửa sổ thời gian trước khi thuế quan mới áp dụng.

Các doanh nghiệp Việt Nam, vốn gắn chặt với chuỗi cung ứng khu vực, không thể đứng ngoài vòng xoáy. Ba rủi ro chính định hình môi trường kinh doanh hiện tại: chính sách thuế bất định, điều kiện vốn toàn cầu thắt chặt, và rủi ro địa chính trị kéo dài từ Trung Đông tới Đông Âu.

Việt Nam: Nền tảng vĩ mô tích cực nhưng dễ "tổn thương"

Nửa đầu 2025, Việt Nam được ghi nhận giữ nhịp tăng trưởng khả quan. Xuất khẩu hồi phục, sản xuất chế biến – chế tạo lấy lại sức bật, và đầu tư công giải ngân nhanh hơn. Điểm đáng chú ý nhất: lạm phát duy trì ở vùng thấp, cán cân thanh toán thặng dư, tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Doanh số bán lẻ tăng đều, trở thành động lực ổn định khi thương mại quốc tế gặp trắc trở. Hệ thống ngân hàng vẫn hỗ trợ được tín dụng cho khu vực sản xuất, nhờ đó vòng quay vốn không bị đứt gãy.

Song các nhà phân tích cảnh báo, Việt Nam không nên chủ quan, cần tiếp tục tăng khả năng chống chịu và chuẩn bị cho các cú sốc bên ngoài. Dòng vốn FDI, vốn là “động cơ dài hạn”, đã bắt đầu chịu tác động từ những thay đổi trong chiến lược chuỗi cung ứng toàn cầu. “Xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc và ưu tiên đối tác thân thiện khiến các tập đoàn quốc tế không chỉ tính toán chi phí, mà còn đánh giá kỹ yếu tố bền vững, an toàn chuỗi và tiêu chuẩn kỹ thuật. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chứng minh được năng lực cung ứng đáng tin cậy, thay vì chỉ là điểm đến lao động giá rẻ.

Các dự báo về tăng trưởng và lạm phát đều được điều chỉnh
Các dự báo về tăng trưởng và lạm phát đều được điều chỉnh

Triển vọng 2025–2026: Tăng trưởng không dễ dàng và tác động thực tế tới doanh nghiệp

Theo dự báo, khu vực châu Á đang phát triển sẽ tăng trưởng 4,8% trong năm 2025 và giảm nhẹ còn 4,5% năm 2026. Việt Nam, nhờ nền tảng ổn định, vẫn nằm trong nhóm có tốc độ cao hơn trung bình khu vực. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này đã thấp hơn so với kỳ vọng trước đây.

Lạm phát của Việt Nam dự kiến vẫn quanh mức dưới 4%, là dư địa tốt cho chính sách tài khóa – tiền tệ. Nhưng tăng trưởng cao hơn khu vực sẽ chỉ khả thi nếu Việt Nam biết tận dụng cầu nội địa, đẩy mạnh đầu tư công chất lượng và đồng thời tái cấu trúc năng lực cạnh tranh xuất khẩu.

Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ đóng vai tròn then chốt trong việc hỗ trợ tăng trưởng
Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ đóng vai tròn then chốt trong việc hỗ trợ tăng trưởng.

Điều đó đồng nghĩa, doanh nghiệp Việt không thể chỉ chờ đợi chính sách vĩ mô mà cần chủ động chuyển đổi trong 12–24 tháng tới. Tác động trực tiếp tới:

Xuất khẩu chế biến – chế tạo: Các ngành điện tử, máy móc, dệt may, gỗ đều đối diện thách thức về quy tắc xuất xứ. Nếu tỷ lệ nội địa hóa không đạt yêu cầu, sản phẩm có thể bị xem là hàng trung chuyển và chịu mức thuế bổ sung cao hơn — rủi ro này không thể loại trừ trong kịch bản bất ổn.

Nông sản – thực phẩm: Biên lợi nhuận bị bào mòn bởi biến động chi phí vận tải và năng lượng, trong khi yêu cầu kiểm dịch và truy xuất khắt khe hơn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng quốc tế nếu không nhanh chóng nâng cấp tiêu chuẩn.

Bán lẻ nội địa: Sự tăng trưởng của tầng lớp trung lưu giúp duy trì sức cầu. Tuy nhiên, thị trường này ngày càng cạnh tranh, buộc doanh nghiệp phải tinh gọn danh mục sản phẩm, đầu tư đồng bộ cho bán hàng đa kênh và mô hình bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

Hạ tầng – công nghệ – xây dựng: Đầu tư công mở ra cơ hội lớn, nhưng chỉ dành cho những doanh nghiệp có năng lực quản trị dự án, tài chính vững và đáp ứng tiêu chuẩn ESG.

Từ ứng biến sang dự báo đến Chiến lược ngành: nâng cấp thay vì duy trì

Trong môi trường thương mại bất định, quản trị kinh doanh không thể dựa vào phản ứng bị động. Doanh nghiệp cần xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng chi tiết, xác định rõ từng mã HS (mã phân loại hàng hóa dùng trong xuất nhập khẩu), điểm trung chuyển và tỷ lệ nội địa hóa. Đây là công cụ chiến lược để kiểm soát rủi ro và nâng cao năng lực đàm phán.

Khai thác triệt để các hiệp định thương mại tự do như EVFTA (Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU), CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), và RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực) trở thành nhiệm vụ sống còn. Chỉ những doanh nghiệp có hồ sơ xuất xứ minh bạch mới có thể tận dụng “cửa sổ thuế suất ưu đãi” để duy trì và mở rộng thị phần.

Ngoài ra, hợp đồng thương mại cần được thiết kế linh hoạt hơn, có điều khoản điều chỉnh giá theo chi phí logistics và thuế quan. Các công cụ dự báo nhu cầu, phòng hộ tỷ giá, hợp đồng vận tải dài hạn, và hệ thống truy xuất số hóa sẽ là những “vũ khí” quản trị rủi ro mới.

Một thông điệp xuyên suốt từ báo cáo triển vọng khu vực là: doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ dừng ở việc “giữ thị phần”, mà buộc phải bước lên nấc thang giá trị cao hơn.

Điều này đặc biệt đúng với bốn nhóm ngành trụ cột của xuất khẩu:

Ở lĩnh vực điện tử, Việt Nam đã thành công trong vai trò trung tâm lắp ráp, nhưng mô hình này ngày càng dễ tổn thương trước các rào cản thuế quan và quy tắc xuất xứ. Để bền vững, các doanh nghiệp cần chuyển sang sản xuất module và bảng mạch có giá trị cao hơn, đồng thời xây dựng mạng lưới vệ tinh ở những quốc gia “an toàn thuế” nhằm đa dạng hóa rủi ro.

Với dệt may – da giày, sức ép từ thị trường châu Âu và Mỹ đang buộc ngành này phải thay đổi triệt để. Chỉ khi chủ động đầu tư vào nguồn nguyên liệu nội khối, chuẩn hóa quy trình ESG và thử nghiệm mô hình near-shoring ngay tại thị trường tiêu thụ, doanh nghiệp Việt mới đủ sức vượt qua những quy tắc xuất xứ khắt khe đang trở thành tiêu chuẩn mới.

Ngành gỗ – nội thất cũng đối mặt với áp lực minh bạch. Hồ sơ gỗ hợp pháp không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là “giấy thông hành” để tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, việc tối ưu hóa sản phẩm từ thiết kế đến đóng gói để giảm chi phí logistics đang trở thành chìa khóa giữ lợi thế cạnh tranh.

Trong khi đó, nông sản – thực phẩm lại cần một cuộc nâng cấp toàn diện. Từ việc đạt chuẩn HACCP, đầu tư hệ thống chuỗi lạnh cho đến phát triển thương hiệu tại thị trường đích, đây là con đường duy nhất để doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi vai trò “nhà gia công nông sản”, vươn Chính sách đồng vận và khuyến nghị chiến lược: Bản đồ đi tới 2026

Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ lớn. Mô hình tăng trưởng trước đây, dựa nhiều vào chi phí thấp và xuất khẩu, đang cho thấy hạn chế, cần hướng tới mô hình năng suất cao hơn và tăng nội lực. Con đường phía trước đòi hỏi sự đồng vận giữa chính sách vĩ mô và năng lực quản trị vi mô của doanh nghiệp.

Từ góc độ chính sách, ba động lực hỗ trợ cần được triển khai ngay. Thứ nhất, số hóa toàn diện thủ tục xuất xứ và hải quan, đồng thời làm rõ cơ chế áp thuế trung chuyển, để doanh nghiệp không bị “vấp ngã” bởi sự mơ hồ trong thực thi. Thứ hai, mở rộng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và các công cụ hedging cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp giảm chi phí vốn và bảo vệ trước biến động tỷ giá. Thứ ba, đẩy nhanh đầu tư công chất lượng cao, đặc biệt vào hạ tầng logistics, năng lượng tái tạo và nền tảng số, những lĩnh vực có khả năng kéo cả nền kinh tế tiến lên.

Song song, bản thân doanh nghiệp cũng cần một tư duy quản trị mới. Đã đến lúc phải chuyển từ “ứng biến” sang “dự báo và chủ động”. Thay vì chỉ phản ứng trước biến động, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kịch bản vận hành, chuẩn hóa hệ thống tuân thủ và truy xuất, và tăng tỷ lệ nội địa hóa ở các khâu chiến lược. Quan trọng không kém là khả năng tận dụng đầu tư công và xu hướng chuyển đổi xanh để mở rộng cơ hội kinh doanh.

Ở cấp quốc gia, Việt Nam cần một chương trình nâng cấp nhà cung cấp SME đủ mạnh để tạo ra những mắt xích tin cậy trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn quốc tế, mà còn tạo đòn bẩy để doanh nghiệp nội vươn ra thị trường thế giới với vị thế mới: đối tác chuẩn mực và bền vững.

Doanh nghiệp Việt Nam, trong thời điểm này, cần chủ động thay vì trông chờ vào hỗ trợ vĩ mô mà cần tự trang bị một hệ thống quản trị mới: dữ liệu hóa, minh bạch và chủ động. Khi đó, Việt Nam mới thực sự sẵn sàng trở thành đối tác tin cậy trong chuỗi cung ứng khu vực, không phải vì giá rẻ, mà vì khả năng thích ứng và chuẩn hóa.

Tin bài khác
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đề xuất việc công nhận khu kinh tế đặc biệt được thực hiện theo cơ chế đánh giá hai bước: địa bàn phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện đầu vào, sau đó đạt từ 90/100 điểm theo 5 nhóm tiêu chí mới được xem xét công nhận.
Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Trước những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu, Diễn đàn Phòng vệ thương mại 2026 tại Hải Phòng đặt trọng tâm vào nâng năng lực sản xuất, cảnh báo sớm rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả.
Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Bộ Tài chính đang đẩy mạnh tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Nguyễn Văn Thân đề xuất một loạt giải pháp nhằm mở rộng chủ thể cung ứng vốn, khai thác dòng tiền và các tài sản hình thành trong quá trình kinh doanh.
Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa đang phục hồi tích cực nhưng cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về phân phối, logistics và sức cạnh tranh để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

Điều lệ mới xác lập cơ chế tổ chức và hoạt động của Liên minh Hợp tác xã TP. Hồ Chí Minh sau hợp nhất, đồng thời mở rộng không gian hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn Thành phố.
Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Từ cao tốc, nguồn vật liệu đến các dự án nhiệt điện và chuỗi khí Lô B - Ô Môn, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu tăng tốc đồng loạt để không làm chậm nhịp phát triển hạ tầng và năng lượng của vùng.
Tiết kiệm năng lượng: Bài toán chi phí trở thành động lực chuyển đổi xanh

Tiết kiệm năng lượng: Bài toán chi phí trở thành động lực chuyển đổi xanh

Từ giảm chi phí sản xuất đến đổi mới công nghệ và giảm phát thải, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đang mở ra hướng đi mới cho doanh nghiệp công nghiệp. Những giải pháp biến chủ trương thành hành động thực tế được Bộ Công Thương đưa ra trao đổi tại Hải Phòng ngày 16/9.
TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

8 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút gần 10,06 tỷ USD vốn FDI, tăng 167% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 57,7% kế hoạch, cao hơn bình quân chung cả nước. Thành phố cũng quyết định cắt giảm 42% số lượng dự án đầu tư công giai đoạn 2026-2030 để tập trung nguồn lực cho hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư theo phương thức PPP.
TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

Cục Đường sắt Việt Nam đề xuất quy hoạch hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 508 km và 4 ga đầu mối. Tổng nhu cầu vốn dự kiến 544.231 tỷ đồng, trong đó giai đoạn đến năm 2030 cần 92.673 tỷ đồng.