Vì sao đa số doanh nghiệp tư nhân siêu nhỏ, nhỏ và vừa “không chịu lớn” ?

Vấn đề | 08:32:00 29/10/2020

DNHN - Chuyên gia kinh tế cho rằng, đa số doanh nghiệp tư nhân siêu nhỏ, nhỏ và vừa “không chịu lớn” là vì họ chỉ dám làm cầm chừng, cốt cho “đủ ăn” hơn là dám làm lớn, dài hạn.

Ảnh minh họa.Nguồn: Internet

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, vài năm gần đây có thêm hiện tượng hàng trăm doanh nghiệp tư nhân phải mất 10-20 năm mới phát triển lên quy mô vừa, nhưng khi tương đối thành công lại quyết định rút khỏi thị trường, bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp của mình vào doanh nghiệp khác, chủ yếu là doanh nghiệp FDI. 

Tình trạng “không chịu lớn” và không muốn chính thức hóa hoạt động kinh doanh của số đông doanh nghiệp tư nhân siêu nhỏ, nhỏ và vừa phản ánh niềm tin kinh doanh còn thấp và bấp bênh ở Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam. Thiếu niềm tin ở năng lực của bản thân, ở môi trường kinh doanh và sự bảo vệ của luật pháp khiến nhiều người tham gia kinh doanh chỉ nhằm mưu sinh và chỉ dám làm cầm chừng, cốt cho “đủ ăn” hơn là dám làm lớn hay làm ăn dài hạn

Mặc dù vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước quy mô lớn đã xuất hiện và tăng khá nhanh trong hơn một thập kỷ vừa qua, nhất là khi thị trường đất đai bùng nổ sau khi nước ta gia nhập WTO. 

Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân Việt quy mô lớn nổi lên từ tập trung vào đầu tư, kinh doanh bất động sản và tích tụ tài sản từ đất, nhờ sử dụng mối quan hệ thân hữu với một số cá nhân và cơ quan nhà nước - nơi có quyền phân bổ đất đai là thứ tài nguyên được hiến định thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước quản lý, phân bổ. 

Vài năm gần đây mới bắt đầu có một số  quy mô lớn chuyển một phần đầu tư sang các lĩnh vực khác đa dạng hơn, như công nghiệp chế tạo, năng lượng, các dịch vụ ngân hàng, thương mại, vận tải, y tế, giáo dục…, kể cả một vài lĩnh vực công nghệ cao.

Về năng suất lao động, theo bà Lan, doanh nghiệp tư nhân thường được coi là có năng suất lao động cao hơn doanh nghiệp nhà nước, nhưng ở nước ta, khu vực “ngoài nhà nước” có năng suất thấp nhất và thua xa doanh nghiệp nhà nước và FDI.

Sự chênh lệch về nhiều mặt giữa khu vực kinh tế tư nhân với các doanh nghiệp thuộc khu vực doanh nghiệp nhà nước và FDI có nguyên nhân gốc rễ là môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế chưa thực sự được tạo lập. 

Doanh nghiệp nhà nước dù gò bó chịu sự quản lý trực tiếp của nhiều cơ quan nhà nước nhưng được bảo hộ khỏi sự cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân trong nước và quốc tế, đồng thời được hưởng nhiều đặc quyền trong tiếp cận các nguồn lực và giành thương quyền trong các dự án có khả năng sinh lời cao. Còn FDI thì được quan tâm thu hút bằng nhiều cơ chế, tạo nên sự bất bình đẳng với khu vực kinh tế tư nhân. 

Mặt khác, hiện tượng “lợi ích nhóm”, “doanh nghiệp sân sau”, “doanh nghiệp thân hữu” khá phổ biến những năm gần đây đã tạo ra môi trường cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp thân hữu với doanh nghiệp không có quan hệ thân hữu. 

“Trong một môi trường cạnh tranh bất bình đẳng như vậy, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam bị chèn ép nhiều bề nên rất khó có thể lớn lên được. Quyền tiếp cận các nguồn lực, thương quyền và cơ hội kinh doanh của họ bị thu hẹp, thậm chí bị tước đoạt bởi những doanh nghiệp được ưu đãi một cách không sòng phẳng. 

Họ phải trả giá cao hơn cho nhiều tài nguyên và sản phẩm do những nhóm lợi ích thao túng thị trường, đặc biệt về đất đai, mặt bằng sản xuất-kinh doanh, chi phí vận tải..., làm đội giá thành và giảm lợi nhuận của họ. Biên lợi nhuận quá nhỏ bé và bấp bênh khiến khu vực kinh tế tư nhân càng khó có khả năng đầu tư phát triển và ít dám nghĩ đến làm ăn lớn hay lâu dài”, bà Lan nhấn mạnh.

Đồng quan điểm này, TS. Nguyễn Thị Luyến (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) nhìn nhận: Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển các DNTN quy mô lớn chưa được chú trọng. Vẫn có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình kinh doanh, làm cho doanh nghiệp không lớn được, thậm chí không muốn lớn.

Theo báo cáo Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ (USAID), tới 70% DN cho rằng "nguồn lực kinh doanh (hợp đồng, đất đai,...) chủ yếu rơi vào DN thân quen cán bộ công quyền". Việc tiếp cận thông tin cũng thiếu công bằng, với 69% DN cho rằng cần phải có "mối quan hệ" để có thông tin hay tài liệu của tỉnh. Trong môi trường cạnh tranh không bình đẳng, những DN "thấp cổ bé họng" khó phát triển.

Để KVKTTN có thể trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, TS. Phạm Chi Lan cho rằng, cần tạo lập một môi trường cạnh tranh thực sự bình đẳng, lành mạnh. "Đây là tiền đề số 1, và cần được coi là trọng tâm của cải cách thể chế kinh tế trong những năm tới. Còn với KVKTTN, việc quan trọng nhất là nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, góp phần hiện đại hóa nền kinh tế để phát triển cao và bền vững trong mấy thập niên tới", bà Lan lưu ý.

Cùng với đó, các chính sách ưu đãi của nhà nước dành cho DN cũng cần được bố trí lại, chủ yếu để khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển giao và ứng dụng công nghệ tiên tiến, đào tạo nâng cao kỹ năng, hoặc thông tin, tư vấn giúp các DN, đặc biệt là DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa chuyển đổi, cùng nhau tạo lập hoặc tham gia các liên kết, các chuỗi cung ứng mới với giá trị gia tăng cao hơn.

Gia Gia

Từ khóa: KTTB doanh nghiệp