Thứ ba 20/10/2026 08:07
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Ý kiến trao đổi về thuật ngữ “thanh lý hợp đồng”

08/03/2021 15:46
Trong thực tiễn giao dịch kinh doanh thương mại thuật ngữ pháp lý “thanh lý hợp đồng” vẫn được các doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, và vẫn xuất hiện rải rác trong các luật chuyên ngành sau khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực.
(Ảnh: Internet)

Mặc dù Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 29 tháng 9 năm 1989 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ Luật dân sự 2005 có hiệu lực vào ngày 01/01/2006, nhưng hiện nay trong thực tiễn giao dịch kinh doanh thương mại thuật ngữ pháp lý “thanh lý hợp đồng” vẫn được các doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, và vẫn xuất hiện rải rác trong các luật chuyên ngành sau khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực.

Nhìn lại các văn bản pháp quy về hợp đồng kinh tế đã hiệu lực từ ngày 31/12/2005 trở về trước, thuật ngữ “thanh lý hợp đồng” được đề cập thường xuyên và là nội dung quan trọng trong việc giao kết, thực hiện và giải quyết hợp đồng kinh tế. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 có chương 3 quy định về việc “thực hiện, thay đổi, đình chỉ thanh lý hợp đồng kinh tế”. Điều 28 của pháp lệnh quy định các bên giao kết hợp đồng kinh tế phải cùng nhau thanh lý hợp đồng kinh tế trong trường hợp: (1) Hợp đồng kinh tế được thực hiện xong; (2) Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng kinh tế đã hết và không có sự thoả thuận kéo dài thời hạn đó; (3) Hợp đồng kinh tế bị đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bỏ; (4) Khi hợp đồng kinh tế không được tiếp tục thực hiện do người nhận chuyển giao không đủ điều kiện thực hiện hợp đồng kinh tế được chuyển giao thì yêu cầu bên chuyển giao phải thanh lý hợp đồng kinh tế trước khi nhận chuyển giao. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bên có quan hệ hợp đồng kinh tế với bên chuyển giao có quyền yêu cầu thanh lý hợp đồng kinh tế bằng văn bản. Trong thời hạn đó, nếu không có yêu cầu thanh lý hợp đồng kinh tế thì việc chuyển giao hợp đồng kinh tế coi như đã được chấp nhận. Nghị định 17-HĐBT hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh hợp đồng kinh tế còn quy định về trách nhiệm, thời hạn thanh lý hợp đồng kinh tế; Việc thanh lý hợp đồng kinh tế phải được làm bằng văn bản riêng, trong đó cần có những nội dung chính sau đây: a) Xác nhận mức độ thực hiện nội dung công việc đã thoả thuận trong hợp đồng của các bên, từ đó xác định nghĩa vụ của các bên sau khi thanh lý hợp đồng; Từ thời gian các bên đã ký vào biên bản thanh lý, quan hệ hợp đồng kinh tế đó coi như đã được chấm dứt. Riêng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác nhận trong biên bản thanh lý vẫn có hiệu lực pháp luật cho đến khi các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình. Cơ quan giải quyết về yêu cầu thanh lý hợp đồng kinh tế là trọng tài kinh tế nhà nước.

Thuật ngữ hợp đồng kinh tế và thanh lý hợp đồng không còn xuất hiện trong phần thứ 3 “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” của Bộ Luật dân sự 2005 (hết hiệu lực từ ngày 01/01/2017), và cũng không xuất hiện trong phần thứ 3 “Nghĩa vụ và hợp đồng” của Bộ luật dân sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017). Theo Bộ luật dân sự 2015, nội dung thanh lý hợp đồng được thay thế bởi các chế định chấm dứt hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ, hoặc do không có khả năng thực hiện, hoặc trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng, và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên thuật ngữ thanh lý hợp đồng vẫn xuất hiện rải rác trong các luật chuyên ngành được dẫn chiếu dưới đây:

Luật thương mại 2005, khoản 2 Điều 181 về Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công quy định bên giao gia công phải “nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng gia công, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”; Tại khoản 3 điều 231 về Bảo đảm thực hiện hợp đồng quy định: “3. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên trúng thầu được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng khi thanh lý hợp đồng. Bên trúng thầu không được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng nếu từ chối thực hiện hợp đồng sau khi hợp đồng được giao kết”.

Luật xây dựng 2014, điểm o khoản 1 điều 141 quy định nội dung hợp đồng xây dựng bao gồm: …“o) Quyết toán và thanh lý hợp đồng xây dựng”. Tại điều 147. Quyết toán, thanh lý hợp đồng xây dựng quy định:

“3. Hợp đồng xây dựng được thanh lý trong trường hợp sau: a) Các bên đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng; b) Hợp đồng xây dựng bị chấm dứt hoặc hủy bỏ theo quy định của pháp luật.

4. Thời hạn thanh lý hợp đồng xây dựng do các bên hợp đồng thỏa thuận. Đối với hợp đồng xây dựng sử dụng vốn nhà nước, thời hạn thanh lý hợp đồng là 45 ngày kể từ ngày các bên hợp đồng hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc hợp đồng bị chấm dứt theo quy định tại khoản 2 Điều 145 của Luật này. Đối với hợp đồng xây dựng có quy mô lớn, việc thanh lý hợp đồng có thể được kéo dài nhưng không quá 90 ngày”.

Luật doanh nghiệp 2020, điều 208 quy định nghị quyết, quyết định giải thể của doanh nghiệp phải bao gồm thủ tục thanh lý hợp đồng.

Luật đầu tư 2020 tại khoản 5 điều 77 về quy định chuyển tiếp quy định: “5. Hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành; các bên tham gia hợp đồng được thực hiện các hoạt động để thanh lý hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư 2020, điều 52 Chấm dứt hợp đồng dự án PPP: “1. Việc chấm dứt hợp đồng dự án PPP thực hiện theo quy định tại hợp đồng, làm cơ sở cho việc thanh lý hợp đồng”.

Luật người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 (hết hiệu lực ngày 1/1/2022). Khoản 7 Điều 4 về nội dung hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm: “Thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài;”. Ngoài ra Luật này cũng quy định về tiền ký quỹ của người lao động tại Điều 23 như sau: “3.Tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc và lãi cho người lao động khi thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài”.

Với chế định sửa đổi, chấm dứt hợp đồng tại Bộ Luật dân sự 2015 và quy định liên quan “thanh lý hợp đồng” tại các luật chuyên ngành nêu trên, người viết mong muốn doanh nghiệp nhận diện được rủi ro trong việc xây dựng các điều khoản về sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, có được “cái kết” với lợi ích tốt nhất khi thực hiện hoàn thành quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, phù hợp với quy định pháp luật đang có hiệu lực.

Luật sư Bùi Văn Thành – Trưởng Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới

Tin bài khác
Đề xuất nâng tiền đặt trước đấu giá đất ở lên tối đa 50% giá khởi điểm

Đề xuất nâng tiền đặt trước đấu giá đất ở lên tối đa 50% giá khởi điểm

Dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) đề xuất nâng mức tiền đặt trước khi đấu giá đất để giao đất ở cho cá nhân lên 20-50% giá khởi điểm, đồng thời bổ sung chế tài với trường hợp trúng đấu giá nhưng bỏ cọc. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra lưu ý mức đặt trước tối đa 50% có thể làm tăng chi phí tham gia đấu giá.
Nghị định 365/2026/NĐ-CP (kỳ 2): Giấy phép xuất khẩu gạo không còn là tấm vé an toàn, doanh nghiệp đối mặt những rủi ro nào?

Nghị định 365/2026/NĐ-CP (kỳ 2): Giấy phép xuất khẩu gạo không còn là tấm vé an toàn, doanh nghiệp đối mặt những rủi ro nào?

Nghị định 365 siết trách nhiệm duy trì dự trữ, báo cáo và điều kiện xuất khẩu gạo sau cấp phép. Với doanh nghiệp, nguy cơ bị thu hồi Giấy chứng nhận không chỉ là rủi ro pháp lý mà còn đe dọa dòng vốn, hợp đồng và thị trường.
Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Đấu thầu theo FTA, khi rào cản cạnh tranh có thể ẩn ngay trong hồ sơ mời thầu

Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Đấu thầu theo FTA, khi rào cản cạnh tranh có thể ẩn ngay trong hồ sơ mời thầu

Đấu thầu theo các FTA không chỉ mở rộng cạnh tranh mà còn đặt ra yêu cầu minh bạch ngay từ hồ sơ mời thầu. Nghị định 374 siết các điều kiện hạn chế nhà thầu, quy định về xuất xứ, ngôn ngữ và tư cách dự thầu của mình.
Thông tư 142/2026/TT-BTC: Xác thực điện tử trong chuyển phát quốc tế, thêm minh bạch hay thêm rào cản cho người kinh doanh nhỏ?

Thông tư 142/2026/TT-BTC: Xác thực điện tử trong chuyển phát quốc tế, thêm minh bạch hay thêm rào cản cho người kinh doanh nhỏ?

Thông tư 142 đặt ra yêu cầu xác thực điện tử với một số nhóm hàng gửi qua bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh có thể đối mặt rủi ro chậm giao hàng nếu thông tin không thống nhất.
Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Mở cửa đấu thầu theo FTA, doanh nghiệp Việt có thêm thị trường hay thêm đối thủ?

Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Mở cửa đấu thầu theo FTA, doanh nghiệp Việt có thêm thị trường hay thêm đối thủ?

Nghị định 374 mở rộng không gian đấu thầu theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA, nhưng cơ hội không chia đều. Doanh nghiệp nhỏ chịu sức ép cạnh tranh, còn hộ kinh doanh phải chứng minh năng lực dự thầu. Cánh cửa mở, liệu ai thực sự đủ sức bước qua?
Thông tư số 141/2026/TT-BTC (kỳ 3): Đào tạo 10.000 CEO, doanh nghiệp có thực sự mạnh lên?

Thông tư số 141/2026/TT-BTC (kỳ 3): Đào tạo 10.000 CEO, doanh nghiệp có thực sự mạnh lên?

Chương trình đào tạo 10.000 CEO không thể chỉ dừng ở chứng nhận hoàn thành khóa học. Thông tư 141 đặt trọng tâm vào cố vấn, ứng dụng kiến thức và đánh giá hiệu quả. Vấn đề là ngân sách hỗ trợ có thực sự giúp doanh nghiệp mạnh lên?
Nghị định 365/2026/NĐ-CP (kỳ 1): Xuất khẩu gạo trước bước ngoặt chính sách, cửa mở rộng, doanh nghiệp nhỏ có dễ bước vào?

Nghị định 365/2026/NĐ-CP (kỳ 1): Xuất khẩu gạo trước bước ngoặt chính sách, cửa mở rộng, doanh nghiệp nhỏ có dễ bước vào?

Nghị định 365 mở cơ hội gia nhập thị trường xuất khẩu gạo khi giảm điều kiện kinh doanh và đẩy mạnh hậu kiểm. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ, chi phí hạ tầng, trách nhiệm pháp lý và khả năng liên kết vẫn là phép thử không dễ vượt qua.
Thông tư 141: Học bổng đào tạo CEO và những rủi ro pháp lý doanh nghiệp cần biết

Thông tư 141: Học bổng đào tạo CEO và những rủi ro pháp lý doanh nghiệp cần biết

Thông tư 141 mở cơ hội nhận học bổng đào tạo CEO, nhưng hỗ trợ ngân sách không đồng nghĩa miễn trách nhiệm. Doanh nghiệp cần kê khai trung thực, tránh nhận hỗ trợ trùng lặp, bảo đảm hoàn thành khóa học và kiểm soát tốt rủi ro pháp lý.
Bộ Tài chính cắt giảm hai thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính cắt giảm hai thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp nhà nước

Từ ngày 1/11/2026, hai thủ tục hành chính về xử lý miễn lãi các khoản lãi chậm nộp của Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp sẽ chính thức được bãi bỏ, theo Quyết định số 2885/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.
10.000 CEO và câu hỏi lớn: Chính sách hỗ trợ có đến đúng doanh nghiệp cần nhất?

10.000 CEO và câu hỏi lớn: Chính sách hỗ trợ có đến đúng doanh nghiệp cần nhất?

Chương trình đào tạo 10.000 CEO mở cơ hội nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, giới hạn học bổng, điều kiện thụ hưởng và khoảng trống đối với hộ kinh doanh đặt ra câu hỏi: chính sách có đến đúng nơi cần nhất không?
Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 3): Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp đối diện phép thử trách nhiệm và cạnh tranh

Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 3): Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp đối diện phép thử trách nhiệm và cạnh tranh

Nghị định 373/2026/NĐ-CP đặt doanh nghiệp chuyển đổi trước trách nhiệm duy trì dịch vụ công, kế thừa nghĩa vụ và bảo vệ người lao động. Cơ hội tham gia thị trường đi cùng sức ép quản trị, cạnh tranh, buộc nhà đầu tư tính chi phí và rủi ro.
Quy định mới về bí mật nhà nước của Quốc hội: Làm rõ 2 cấp độ bảo mật

Quy định mới về bí mật nhà nước của Quốc hội: Làm rõ 2 cấp độ bảo mật

Quyết định số 1978/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể 5 nhóm thông tin thuộc bí mật nhà nước độ Tối mật và 5 nhóm thuộc độ Mật trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Quyết định có hiệu lực từ ngày 13/10/2026, thay thế quy định ban hành năm 2020.
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Siết quản lý tài sản viện trợ, tăng trách nhiệm giải trình

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Siết quản lý tài sản viện trợ, tăng trách nhiệm giải trình

Thông tư 140/2026/TT-BTC yêu cầu quản lý tài sản viện trợ thuộc ngân sách nhà nước, từ ghi nhận hàng hóa, công trình đến quyết toán, báo cáo. Doanh nghiệp tham gia dự án cần chuẩn hóa chứng từ, nghiệm thu, kiểm soát công nợ và rủi ro pháp lý.
Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Tái cấu trúc nợ trái phiếu và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp

Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Tái cấu trúc nợ trái phiếu và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp

Thông tư 138/2026/TT-BTC đặt việc tái cấu trúc nợ trái phiếu trước yêu cầu minh bạch và bảo vệ trái chủ. Từ thay đổi kỳ hạn, thanh toán bằng tài sản khác đến giám sát dữ liệu, doanh nghiệp phải kiểm soát rủi ro pháp lý và dòng tiền.
Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 2): Định giá đơn vị sự nghiệp công lập, nhận diện rủi ro từ đất đai và công nợ

Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 2): Định giá đơn vị sự nghiệp công lập, nhận diện rủi ro từ đất đai và công nợ

Nghị định 373/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu kiểm kê, định giá tài sản, xử lý đất đai và công nợ khi chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Nhà đầu tư cần nhận diện nghĩa vụ tài chính, giới hạn sử dụng đất và rủi ro pháp lý.