Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 434,3 tỷ USD trong 9 tháng năm 2026, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Nhưng khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp 83,89 tỷ USD, tương đương 19,3% tổng kim ngạch; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7%. Khoảng cách về quy mô và tốc độ tăng trưởng đặt ra câu hỏi lớn hơn phía sau những con số kỷ lục: doanh nghiệp Việt đang giữ lại bao nhiêu giá trị từ làn sóng xuất khẩu?
Theo Cục Thống kê, khu vực trong nước tăng xuất khẩu 7,5% trong 9 tháng, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 29,4% của khu vực FDI. Cùng kỳ, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%, khiến cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Nhập khẩu tăng không mặc nhiên là tín hiệu xấu, bởi phần lớn hàng nhập khẩu có thể phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, khi xuất khẩu tăng nhanh nhưng doanh nghiệp nội địa chưa theo kịp khu vực FDI, bài toán không chỉ là mở rộng sản lượng. Điều quan trọng là nâng khả năng cung cấp nguyên liệu, linh kiện, công nghệ và dịch vụ có giá trị cao cho chuỗi sản xuất.
Điện tử xuất khẩu lớn, nội địa hóa vẫn thấp
Một trong những khoảng cách rõ nhất nằm ở ngành Điện tử. Theo thông tin của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), được Báo Điện tử Chính phủ công bố ngày 8/10, tỷ lệ nội địa hóa trong lĩnh vực điện tử tin học, viễn thông hiện mới khoảng 15%. Trong khi đó, điện tử gia dụng đạt khoảng 30-45%; cơ khí chế tạo khoảng 25-30%.
![]() |
| Dây chuyền lắp ráp linh kiện điện tử tại Việt Nam. Nâng tỷ lệ nội địa hóa không chỉ phụ thuộc vào sản lượng sản xuất, mà còn ở khả năng làm chủ công nghệ và tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao - Ảnh: Nhà đầu tư. |
Những con số này cho thấy cần phân biệt quy mô sản xuất tại Việt Nam với năng lực công nghiệp do doanh nghiệp Việt làm chủ. Một sản phẩm có thể được lắp ráp trong nước, xuất khẩu với giá trị lớn, nhưng nhiều linh kiện, vật liệu, thiết bị và công nghệ quan trọng vẫn đến từ bên ngoài.
Vấn đề không nằm ở việc phải tự sản xuất mọi đầu vào. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, ngay cả các tập đoàn lớn cũng chuyên môn hóa và mua hàng từ nhiều quốc gia. Thách thức của Việt Nam là xác định những khâu doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh, từ đó nâng dần năng lực kỹ thuật, chất lượng và giá trị gia tăng.
Cũng theo Cục Công nghiệp, chỉ khoảng 33% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực điện tử có thực hiện công đoạn thiết kế trong quá trình sản xuất. Với dệt may và da giày, tỷ lệ này khoảng 19%.
Thiết kế là một khâu quan trọng vì giúp doanh nghiệp tham gia sớm hơn vào quá trình phát triển sản phẩm, thay vì chỉ gia công theo bản vẽ và tiêu chuẩn do khách hàng cung cấp. Khi có khả năng thiết kế, thử nghiệm và cải tiến, doanh nghiệp có thêm cơ hội làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm khác biệt và nâng vị thế trong đàm phán với khách hàng.
Hơn 400 doanh nghiệp được hỗ trợ, 63 đơn vị vào chuỗi cung ứng Samsung
Khoảng cách từ năng lực sản xuất đến khả năng trở thành nhà cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia được thể hiện qua chương trình hợp tác giữa Bộ Công Thương và Samsung Việt Nam.
Theo Bộ Công Thương, đến cuối năm 2024, hơn 400 doanh nghiệp Việt Nam đã được khảo sát, đánh giá và tư vấn cải tiến sản xuất; trong số đó, 63 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2 trong chuỗi sản xuất toàn cầu của Samsung. Các doanh nghiệp tham gia chương trình ghi nhận năng suất tăng 30-50%, đồng thời giảm tỷ lệ lỗi và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế.
Đây là kết quả của một chương trình cụ thể, không phải tỷ lệ đại diện cho toàn bộ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Tuy nhiên, trường hợp này cho thấy việc tham gia chuỗi cung ứng không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu mua hàng của tập đoàn FDI. Doanh nghiệp nội địa còn phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, năng lực sản xuất ổn định, hệ thống quản lý và khả năng cải tiến liên tục.
Chương trình của Bộ Công Thương và Samsung tập trung vào các lĩnh vực như linh kiện điện tử, nhựa kỹ thuật, cơ khí chính xác, khuôn mẫu, xử lý bề mặt và bao bì công nghiệp. Các doanh nghiệp được hỗ trợ cải tiến quy trình, hệ thống kiểm soát chất lượng, công nghệ và kỹ năng của đội ngũ kỹ thuật.
Bài học đáng chú ý là muốn trở thành nhà cung ứng, doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực đáp ứng tiêu chuẩn và đơn hàng thực tế, chứ không chỉ có nhà xưởng hay máy móc.
Ba rào cản khiến doanh nghiệp khó nhận đơn hàng lớn
Để đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thường phải đầu tư đáng kể vào máy móc, công nghệ, kiểm định chất lượng và nhân lực kỹ thuật. Những khoản đầu tư này có thể phát sinh trước khi doanh nghiệp nhận được đơn hàng đủ lớn để thu hồi vốn.
![]() |
| Sản xuất linh kiện cơ khí tại Việt Nam. Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cần đáp ứng đồng thời yêu cầu về chất lượng, năng suất, tiến độ giao hàng và khả năng mở rộng sản xuất. |
Thứ nhất là năng lực công nghệ và chất lượng sản phẩm. Các nhà mua hàng lớn đòi hỏi độ chính xác, tính đồng nhất giữa các lô sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp chưa có hệ thống quản trị chất lượng ổn định sẽ khó vượt qua quy trình đánh giá nhà cung cấp.
Thứ hai là vốn đầu tư và khả năng mở rộng công suất. Một đơn hàng lớn có thể đòi hỏi doanh nghiệp mua thêm thiết bị, bổ sung nhân lực và dự trữ nguyên liệu trước khi thu được tiền từ khách hàng. Nếu khó tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn, doanh nghiệp có thể không đủ khả năng đáp ứng ngay cả khi có cơ hội kinh doanh.
Thứ ba là khả năng tiếp cận thông tin và kết nối với doanh nghiệp đầu chuỗi. Doanh nghiệp cần biết tập đoàn đang tìm loại linh kiện nào, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao và quy trình đánh giá nhà cung cấp được thực hiện như thế nào. Thiếu thông tin có thể khiến doanh nghiệp đầu tư không đúng nhu cầu hoặc không tiếp cận được cơ hội phù hợp.
Những rào cản này cũng được phản ánh trong các thông tin về ngành công nghiệp hỗ trợ do VietnamPlus dẫn lại từ đại diện hiệp hội và doanh nghiệp: nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hạn chế về tài chính, công nghệ và quản trị; liên kết với doanh nghiệp FDI còn yếu, trong khi yêu cầu về chất lượng và thời hạn giao hàng rất chặt chẽ.
Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở hội chợ kết nối hay giới thiệu sản phẩm. Điều cần thiết là đưa doanh nghiệp đến gần hơn với yêu cầu mua hàng thực tế, đồng thời giúp họ hoàn thiện công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn và năng lực tài chính để đủ sức thực hiện hợp đồng.
Từ tăng xuất khẩu đến nâng giá trị giữ lại trong nước
![]() |
| Sản phẩm chip trưng bày tại sự kiện khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao của Viettel. Làm chủ công nghệ và thiết kế là một hướng nâng giá trị do doanh nghiệp Việt tạo ra. |
Theo Cục Thống kê, trong 9 tháng năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Quy mô này cho thấy công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Nhưng để tăng phần giá trị doanh nghiệp trong nước tạo ra, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cần đi xa hơn mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa đơn thuần. Theo định hướng được Báo Điện tử Chính phủ phản ánh ngày 8/10, mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử lên 25-30%, cơ khí chế tạo lên 40% và ô tô lên 22-30%.
Các mục tiêu này sẽ có ý nghĩa hơn nếu đi cùng chỉ tiêu về năng lực công nghệ, số doanh nghiệp đạt chuẩn nhà cung ứng, giá trị hợp đồng với các tập đoàn đầu chuỗi và khả năng tham gia những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Với doanh nghiệp, con đường thực tế là chọn đúng phân khúc có thể cạnh tranh, đầu tư vào chất lượng và năng suất, chuẩn hóa quy trình, phát triển đội ngũ kỹ thuật và chủ động tìm kiếm cơ hội từ các chương trình phát triển nhà cung cấp. Với cơ quan quản lý, trọng tâm là kết nối chính sách hỗ trợ với nhu cầu của thị trường, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn và hạ tầng thử nghiệm, chứng nhận, thiết kế dùng chung.
434,3 tỷ USD xuất khẩu trong 9 tháng là thước đo quy mô thương mại; còn năng lực công nghệ, số nhà cung ứng Việt đủ chuẩn và giá trị gia tăng trong nước mới cho thấy doanh nghiệp Việt đang tiến sâu đến đâu trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Muốn hưởng lợi nhiều hơn từ tăng trưởng xuất khẩu, doanh nghiệp trong nước cần chuyển từ vị trí gia công theo yêu cầu sang năng lực chủ động thiết kế, cải tiến và cung cấp những sản phẩm mà thị trường quốc tế thực sự cần.