![]() |
| Văn kiện được ký kết với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam Trần Văn Sơn và Tổng giám đốc Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Liên bang Nga (Rosatom) Alexey Likhachev - Ảnh: NHẬT BẮC |
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, ngày 23/3 tại Moskva, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Nga Mikhail Mishustin đã chứng kiến lễ ký Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là bước tiến mới trong hợp tác năng lượng song phương, đồng thời tạo thêm cơ sở pháp lý để thúc đẩy quá trình triển khai dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận.
Theo thông tin từ Rosatom, thỏa thuận lần này gắn với dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Phía Nga cho biết hai bên dự kiến xây dựng hai tổ máy theo thiết kế Nga, sử dụng lò phản ứng VVER-1200, với tổng công suất lắp đặt 2.400 MW; dự án tham chiếu được lựa chọn là Leningrad-2. Rosatom cũng nhấn mạnh văn kiện vừa ký tạo khung pháp lý cho việc xây dựng nhà máy và định hướng hợp tác dài hạn trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình.
Chi tiết này đặc biệt đáng chú ý với giới đầu tư, bởi sau giai đoạn dài gián đoạn, dự án điện hạt nhân tại Việt Nam đang dịch chuyển từ mức độ định hướng chính sách sang các bước chuẩn bị có tính thực thi rõ hơn. Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 46/NQ-CP về tổ chức thẩm định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, với mục tiêu hoàn thiện hồ sơ để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI vào tháng 4/2026.
Công nghệ VVER-1200 và ý nghĩa với an ninh năng lượng
Rosatom cho biết VVER-1200 là dòng lò phản ứng công suất lớn mà tập đoàn này đã triển khai tại Nga và một số thị trường quốc tế. Trong thông điệp công bố, Tổng giám đốc Rosatom Alexey Likhachev nhấn mạnh thỏa thuận với Việt Nam không chỉ dừng ở việc xây dựng hai tổ máy điện hạt nhân, mà còn được kỳ vọng trở thành nền tảng cho quan hệ đối tác dài hạn, góp phần tăng mức độ tự chủ năng lượng và mở ra thêm dư địa tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam.
Ở góc độ chính sách, việc thúc đẩy Ninh Thuận 1 phù hợp với định hướng trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Theo Bộ Công Thương, quy hoạch này đã chính thức bổ sung trở lại điện hạt nhân vào cơ cấu nguồn điện quốc gia; trong giai đoạn 2030-2035, các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 được định hướng đưa vào vận hành với quy mô khoảng 4.000-6.400 MW. Tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống tiếp tục được mở rộng để đáp ứng nhu cầu điện tăng cao và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn.
Điều này cho thấy điện hạt nhân đang được đặt trở lại như một cấu phần chiến lược trong bài toán nguồn điện nền. Với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhu cầu điện lớn và yêu cầu giảm phát thải, điện hạt nhân không chỉ là câu chuyện của ngành điện mà còn liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của khu vực sản xuất, chế biến, công nghiệp công nghệ cao và các trung tâm dữ liệu trong tương lai.
Không chỉ là dự án điện, mà là cú hích cho hệ sinh thái công nghiệp
Tác động của hiệp định vừa ký không nằm ở riêng công suất 2.400 MW của Ninh Thuận 1. Với cộng đồng doanh nghiệp, giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kích hoạt một chuỗi đầu tư mới gồm xây dựng, cơ khí chế tạo, logistics siêu trường siêu trọng, vật liệu kỹ thuật cao, đào tạo nhân lực, dịch vụ kỹ thuật, kiểm định an toàn và nghiên cứu ứng dụng công nghệ hạt nhân.
Rosatom cũng cho biết hai bên đang tiếp tục hợp tác trong dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ hạt nhân, với báo cáo nghiên cứu khả thi dự kiến hoàn tất vào tháng 4/2026 để phục vụ quá trình thảo luận tiếp theo. Bên cạnh đó, hai nước đang phối hợp vận hành lò phản ứng nghiên cứu tại Đà Lạt, sử dụng nhiên liệu Nga để sản xuất đồng vị phóng xạ phục vụ y tế tại Việt Nam.
Diễn biến này cho thấy hướng hợp tác Việt - Nga trong lĩnh vực hạt nhân không chỉ bó hẹp ở nhà máy điện, mà đang mở rộng sang nghiên cứu, y học hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực và các ngành công nghệ liên quan. Đây là nền tảng quan trọng nếu Việt Nam muốn xây dựng năng lực nội sinh thay vì chỉ dừng ở vai trò bên mua công nghệ.
Với doanh nghiệp trong nước, cơ hội sẽ mở ra mạnh hơn nếu giai đoạn chuẩn bị đầu tư được đẩy nhanh. Các doanh nghiệp xây lắp, tư vấn kỹ thuật, công nghiệp phụ trợ, tự động hóa, vật liệu, hạ tầng cảng và vận tải chuyên dụng có thể trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng của dự án. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là yêu cầu rất cao về tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị chất lượng, an toàn và năng lực tài chính.
Hiệp định vừa ký là dấu mốc lớn về ngoại giao năng lượng và phát đi tín hiệu rõ ràng rằng tiến trình tái khởi động điện hạt nhân tại Việt Nam đang bước sang giai đoạn mới. Tuy nhiên, từ hiệp định đến khởi công và vận hành thương mại vẫn là một hành trình dài, phụ thuộc vào nhiều tầng thủ tục, từ điều chỉnh chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, thu xếp vốn, đào tạo nhân sự đến chuẩn bị hạ tầng đồng bộ.