Thứ năm 16/07/2026 09:38
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Ước lượng hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam

06/04/2021 15:16
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm ước lượng hiệu quả hoạt động kỹ thuật của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hiệu quả kỹ thuật được ước lượng thông qua phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA; đồng thời, đánh giá thực tế hiệu quả hoạt động của các n

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn 2009-2019, phần lớn các ngân hàng thương mại đạt được hiệu quả hoạt động khá cao và có xu hướng thay đổi tốt hơn. Quy mô hoạt động ngày càng tăng trưởng, đi kèm với đó là hiệu quả kỹ thuật được cải thiện đáng kể. Đặc biệt, hiệu quả quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại đạt kết quả tốt hơn so với hiệu quả kỹ thuật.

Giới thiệu

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) luôn là chủ đề quan trọng trong nền kinh tế, gia tăng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn của các NHTM. Trước đây, các nghiên cứu thường sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA, để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM thông qua việc kết hợp các nhân tố đầu vào và các nhân tố đầu ra.

Trong khi đó, tính chất đặc thù của ngành Ngân hàng có sự tác động qua lại đa chiều của các nhân tố đầu ra với các nhân tố đầu vào, nên tương quan của các biến nghiên cứu sẽ cho ra kết quả phản ánh sát thực tế, cũng như giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam.

Bài viết này ước lượng hiệu quả kỹ thuật các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019 bằng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA; đồng thời, đánh giá thực tế về hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc tìm kiếm các nhân tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật, nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, cũng như gợi ý một số chính sách trong chiến lược phát triển của NHTM Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường, điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu (Perter S.Rose, 2014). Xét về bản chất, nó là một doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong mức độ rủi ro cho phép.

Trong nghiên cứu về hoạt động ngân hàng, một số tác giả tiếp cận theo hướng sản xuất với quan điểm ngân hàng như là đơn vị sản xuất (Benston, 1965; Ferrier et al, 1990; Shaffnit et al, 1997; Zenios et al, 1999), một số tác giả theo cách tiếp cận trung gian, ngân hàng như các trung gian tài chính (Sealey và Lindley, 1977; Maudos và Pastor, 2003;. Casu et al, 2003) và một số khác theo cách tiếp cận hiện đại cho rằng, ngân hàng đóng cả hai vai trò (Frexias và Rochet, 1997; Denizer et al, 2000; Athanassopoulos và Giokas, 2000). Theo các cách tiếp cận này, để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng bao gồm hiệu quả hoạt động và hiệu quả trung gian tài chính.

Để đánh giá tổng hợp tương quan hiệu quả hoạt động của các NHTM, các nghiên cứu trước thường sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA. Đây là phương pháp được sử dụng ngày càng phổ biến để đo lường hiệu quả trong hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện đại (Grigorian và Manole, 2002). Phương pháp DEA được khởi xướng bởi Farrel (1957) và sau này được tiếp tục phát triển bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978); Banker, Charnes và Cooper (1984) và nhiều nhà khoa học khác, nhằm đo lường hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp hay một đơn vị (Decision Making Unit – DMU).

Từ năm 1999, Avkiran đã nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các NHTM Australia trong giai đoạn 1986 - 1995, kết quả nghiên cứu từ phương pháp DEA cho thấy, hiệu quả hoạt động của các NHTM Australia giảm dần từ giai đoạn 1986 - 1991 và tăng dần từ 1991-1995. National Australia Bank là ngân hàng hàng đầu tại Australia luôn đạt hiệu quả hoạt động tuyệt đối 100% trong giai đoạn 1986 - 1995 (ngoại trừ hiệu quả hoạt động năm 1991 đạt 94,61%).

Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Mexico trong giai đoạn 2001-2009, Garza-Garcia (2012) đã sử dụng phương pháp DEA xác định: Hiệu quả kỹ thuật (HQKT), hiệu quả kỹ thuật thuần (HQKTT), hiệu quả quy mô (HQQM) các ngân hàng trong giai đoạn này lần lượt đạt 84%, 72% và 86%. Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tăng trong giai đoạn 2001-2006 và sau đó từ 2006-2008 bị giảm xuống.

Ở Tanzania, Raphael (2013) sử dụng mô hình DEA ước lượng tính hiệu quả của các ngân hàng trong giai đoạn 2005-2008 cho thấy, mức độ phi HQKT là 13%, mức độ phi HQKTT là 9% và mức độ phi HQQM là 4%. Trong khi đó, tại Tunisia, Ayadi (2014) phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng nguồn lực của các NHTM tại Tunisia giai đoạn 2000-2011, kết quả nghiên cứu ước lượng HQKT đạt được 57,1%; HQKTT đạt 64,7% và HQQM đạt 86,9%. NHTM tư nhân hoạt động hiệu quả hơn NHTM có vốn nhà nước.

Ngô Đăng Thành (2010) nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của 22 NHTM Việt Nam năm 2008, kết quả ước lượng chỉ ra, trong số 22 NHTM Việt Nam nghiên cứu có 6 NHTM đạt hiệu quả tối ưu, HQKT trung bình đạt 91,7%; HQKTT đạt 97%, HQQM đạt 94,6%. NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là ngân hàng duy nhất trong 5 NHTM Nhà nước của nghiên cứu đạt đến đường giới hạn khả năng sản xuất.

Mở rộng số lượng lên 39 ngân hàng, Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2013) trong nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008-2012 cho thấy, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng đạt kết quả TE trung bình là 92,84% và PTE trung bình là 96,2%, SE trung bình là 96,56%; điều này chứng tỏ hiệu quả của quy mô đóng góp nhiều hơn HQKT thuần túy.

Phương pháp nghiên cứu

Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở các mô hình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước, tác giả lựa chọn phương pháp DEA trong phân tích HQKT của đề tài và trực tiếp sử dụng mô hình hiệu quả biến đổi theo quy mô DEAVRS . Các biến đầu vào và đầu ra bao gồm:

Biến đầu vào:

- Chi phí nhân viên (CPNV): Là chi phí chi trả cho nhân viên thể hiện nhân tố lao động đầu vào của NHTM. (Kế thừa từ : Yudistira (2004), Liễu Thu Cúc và Võ Thành Danh (2012)).

- Chí phí ngoài lãi (CPNL): Là chi phí chi trả cho hoạt động dịch vụ và hoạt động khác thể hiện nhân tố chi phí vận hành giao dịch đầu vào của NHTM. (Kế thừa từ : Ngô Đăng Thành (2010)).

- Tổng tài sản (TTS): Là tổng tài sản có của NHTM, thể hiện tổng nguồn lực được đưa vào phục vụ cho hoạt động kinh doanh, tổng tài sản phản ánh tất cả các nguồn huy động để tạo ra thu nhập kinh doanh. (Kế thừa từ : Ngô Đăng Thành (2010)).

- Số lượng chi nhánh: Số lượng chi nhánh và phòng giao dịch hoạt động của NHTM tại VN. (Kế thừa từ : Neal (2004)).

Biến đầu ra:

- Thu nhập ngoài lãi (TNNL): Là thu nhập từ hoạt động dịch vụ và hoạt động khác. (Kế thừa từ: Avkiran (1999), Yudistira (2004), Neal (2004), Deahoon và Ha Thu Vu (2008)…).

- Tổng cho vay (CV): Là tổng cho vay từ cho vay khách hàng và cho vay các TCTD. (Kế thừa từ: Yudistira (2004), Neal (2004), Hu và cộng sự (2006)).

Nguồn dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam. Tổng các NHTM là 26 ngân hàng đuợc chọn mẫu hội đủ các tiêu chí nghiên cứu. Cỡ mẫu của NHTM họat động liên tục trong thời gian từ 2009-2019 với 286 quan sát. Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng cân bằng.

Phương pháp xử lý dữ liệu

Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả chọn phương pháp phân tích phi tham số - phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) được lựa chọn làm đại diện cho phương pháp phân tích hiệu quả biên để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2019 bằng phần mềm DEAP 2.1. Trong đó, tác giả tập trung vào mô hình hiệu quả biến đổi theo quy mô DEAVRS. Mô hình DEAVRS lại được chia nhỏ thành hiệu quả giảm theo quy mô (DRS), hiệu quả tăng theo quy mô (IRS).

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Hiệu quả kỹ thuật - TECRS

Qua Bảng 1 cho thấy, hiệu quả kỹ thuật - TECRS các NHTM trong giai đoạn nghiên cứu đạt 91,6%. Trong đó, năm 2012, ngân hàng SeaBank đạt hiệu quả thấp nhất là 44,48%. Trung bình cả giai đoạn 2009-2012 các ngân hàng đã sử dụng 91,6% nguồn lực đầu vào để tạo ra một đầu ra, điều này có nghĩa là đã có 8,4% giá trị đầu vào đã bị lãng phí.

Hiệu quả kỹ thuật - TECRS có xu hướng giảm dần từ 2009-2012, từ mức 93,38% xuống 84,35%. Trong giai đoạn này, các ngân hàng đã lãng phí nguồn lực đầu vào làm hiệu quả kỹ thuật giảm. Xem xét giai đoạn này, đây là giai đoạn các NHTM trải qua thời kỳ bị ảnh hưởng của khủng hoảng bất động sản tại Việt Nam. Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay giai đoạn này cũng rất cao, có thời điểm từ 18-20%/năm. Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các NHTM phải tất toán trạng thái huy động và cho vay bằng vàng cuối năm 2012. Điều này góp phần vào suy giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

Tuy nhiên, từ năm 2013-2016, HQKT đã được cải thiện và tăng trở lại, đạt 96,39%. Trong giai đoạn 2013-2016, sau một thời gian bán nợ VAMC để thực hiện tái cơ cấu nợ xấu theo chính sách của Ngân hàng Nhà nước thì các NHTM phải bắt đầu mua lại các khoản nợ xấu hoặc tất toán trạng thái với VAMC. Từ thực trạng này đã dẫn đến các NHTM phải thực hiện dùng lợi nhuận và lợi nhuận chưa phân phối tất toán các khoản nợ xấu đã bán VAMC dẫn đến hiệu quả của các NHTM có sự biến động trong thời gian này. Từ 2018-2019, chỉ số này đã tăng trở lại và đạt 95,16%.

Trong 26 NHTM nghiên cứu, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) trong các năm (2015, 2017, 2018) và Lienviet Post Bank (LPB) trong các năm (2011, 2013, 2014, 2016) có số lần đạt hiệu quả kỹ thuật thấp nhất một số năm.

Ngoài ra, còn có Ngân hàng TMCP Nam Á (NAB) trong các năm (2009, 2010) và Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) trong năm (2012) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) trong năm (2019). Nhìn chung, các ngân hàng TMCP có HQKT thấp qua các năm đều là các NHTM có quy mô nhỏ, mạng lưới hoạt động chưa rộng khắp. Với kết quả nghiên cứu cho thấy, thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM khá tương đồng với kết quả HQKT từ mô hình DEA được sử dụng.

Hiệu quả kỹ thuật - TEVRS

Hiệu quả kỹ thuật - TEVRS trung bình đạt 95,14% cao hơn TECRS (91,6%) cho thấy, các ngân hàng đã tối ưu được 95,14% nguồn lực đầu vào để thu được 1 đầu ra, mức phi hiệu quả 4,86%. Cũng như TECRS, hiệu quả kỹ thuật - TEVRS cũng có xu hướng giảm dần từ 2009 - 2012, mức giảm 7,67% (thấp hơn mức giảm 9,03% của TECRS).

Điều này cho thấy, HQKT theo mô hình biến đổi theo quy mô cho hiệu quả tốt hơn và mức độ suy giảm cũng thấp hơn khi xét mô hình không đổi theo quy mô. Từ 2013-2016, TEVRS đã có sự cải thiện khi tăng 8,7% lên mức 98,52%. Đây là mức HQKT đạt đỉnh cao nhất trong quá trình nghiên cứu. Trong giai đoạn 2017 - 2019 đã có sự suy giảm còn 97,24%, giai đoạn này khoảng cách chênh lệch giữa TECRS và TEVRS đã rút ngắn xuống còn 2,08% so với mức 4,11% ở năm 2009.

Một lần nữa ở TEVRS MSB (2012- 2015, 2017-2019) và LPB (2013, 2014, 2016) đã tiếp tục là hai ngân hàng có hiệu quả đạt thấp nhất năm trong 26 NHTM. Cả hai ngân hàng này đã thay nhau liên tục có HQKT thấp nhất trong giai đoạn 2012 - 2019. Còn các NHTM khác đạt hiệu quả kỹ thuật cao hơn như: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) đạt 59,46% trong năm 2011, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (TCB) đạt 72,15% trong năm 2010 và Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội (SHB) đạt 78,91% trong năm 2009 có hiệu quả thấp nhất các năm, nhưng mức hiệu quả vẫn đạt cao hơn so với các ngân hàng thấp nhất năm ở mô hình không đổi theo quy mô.

Hiệu quả quy mô – SE

Với kết quả đạt trung bình 96,21%, hiệu quả quy mô lớn hơn hiệu quả kỹ thuật ngay cả 2 mô hình CRS và VRS. Điều này cho thấy, các nhân tố phản ánh về quy mô hoạt động của ngân hàng đóng góp vào hiệu quả hoạt động lớn hơn so với HQKT.

Khi phân tích kết quả hiệu quả quy mô theo nhóm sở hữu, các NHTM nhóm nhà nước có quy mô hoạt động lẫn quy mô tài sản lớn đều đạt tối ưu rất cao. Các ngân hàng như: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và VCB luôn đạt hiệu quả tối ưu về quy mô qua các năm, riêng Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) có mức đạt bình quân 98,5%. Mức độ chênh lệch về hiệu quả quy mô giữa hai nhóm sở hữu ngày càng thu hẹp và chỉ dao động trong phạm vi 3,4% trong các năm 2017 - 2019.

Hiệu quả kỹ thuật theo CRS – DRS – IRS

Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng ngân hàng có HQKT giảm theo quy mô có xu hướng giảm dần. Đến năm 2019 có 16 ngân hàng có hiệu quả không đổi theo quy mô và 9 ngân hàng có hiệu suất tăng.

Năng suất nhân tố tổng hợp TFP - Chỉ số Malmquist

Để đánh giá kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng các đầu vào (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của cán bộ công nhân viên, sử dụng chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp – TFP được ước lượng từ việc chạy chỉ số Malmquist trong phần mềm DEAP 2.1.

Kết quả chỉ số Malmquist cho thấy, chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp trung bình của giai đoạn nghiên cứu đạt 1.0507. Với kết quả này đã thể hiện các NHTM đã có sự nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của cả giai đoạn nghiên cứu. Kết quả này được mang lại do thay đổi hiệu quả kỹ thuật đạt 1.0159, thay đổi tiến bộ công nghệ đạt 1.0341, thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần đạt 1.0073 và thay đổi hiệu quả quy mô đạt 1.0081, tất cả các chỉ số đều đạt trung bình của cả giai đoạn lớn hơn 1.

Để đạt được năng suất nhân tố tổng hợp ở mức 5,07% là nhờ sự đóng góp nhiều nhất từ sự thay đổi HQKT và sự thay đổi tiến bộ công nghệ. Kết quả này phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của các NHTM trong giai đoạn nghiên cứu. Các ngân hàng vẫn liên tục điều tiết để tiết giảm chi phí hoạt động kinh doanh, gia tăng thu nhập từ lãi ròng từ hoạt động cho vay, mở rộng mạng lưới liên tục qua các năm đã góp phần vào tăng năng suất tổng hợp.

Và đặc biệt là nâng cấp công nghệ thông tin qua việc thay đổi core banking theo xu hướng công nghệ mới 4.0 hiện đại, linh hoạt, đa tiện ích và an toàn đang trở thành nền tảng rất quan trọng của mỗi ngân hàng. Điển hình như: Năm 2016, Vietinbank chuyển đổi thành công hệ thống core banking mới hiện đại nhất hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đến tháng 2/2020, Vietcombank cũng chuyển đổi thành công hệ thống core banking mới hiện đại. Trong các năm từ 2009 - 2015 đã có hàng loạt các NHTM cổ phần quy mô nhỏ và vừa chuyển đổi hệ thống core T24 như: TCB, MBB, ABB, VPB…

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã cho ra kết quả tương đối phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của 26 NHTM trong giai đoạn nghiên cứu. Đa số các ngân hàng đều đạt được hiệu quả hoạt động khá cao và có xu hướng thay đổi ngày càng tốt hơn. Quy mô hoạt động ngày càng tăng trưởng đi kèm đó là hiệu quả kỹ thuật cũng dần được cải thiện đáng kể.

Mặc dù HQKTT đạt cao nhưng HQQM đạt kết quả cao hơn, đóng góp nhiều vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các ngân hàng có xu hướng thay đổi tiến bộ công nghệ ngày một tốt hơn, sự thay đổi này đóng góp lớn vào việc nâng cao năng suất giúp cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM qua các năm ngày càng ổn định hơn.

Theo Nguyễn Thanh Bình - Ngân hàng Công thương Việt Nam

Tin bài khác
Hoàn thiện chính sách thuế để thúc đẩy ngành bán hàng đa cấp phát triển minh bạch, bền vững

Hoàn thiện chính sách thuế để thúc đẩy ngành bán hàng đa cấp phát triển minh bạch, bền vững

Dù hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam đã dần đi vào ổn định và đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước, quá trình triển khai các quy định pháp luật, đặc biệt là chính sách thuế, vẫn còn nhiều vướng mắc cần sớm được tháo gỡ.
Tây Ninh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo

Tây Ninh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo

Diễn đàn Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tỉnh Tây Ninh và thúc đẩy liên kết khởi nghiệp phía Nam khẳng định quyết tâm của VCCI và địa phương trong xây dựng môi trường đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp, kết nối đầu tư và phát triển kinh tế tư nhân theo các nghị quyết của Trung ương.
Cổ phiếu IBM lao dốc mạnh nhất hơn 50 năm sau cảnh báo lợi nhuận

Cổ phiếu IBM lao dốc mạnh nhất hơn 50 năm sau cảnh báo lợi nhuận

Cổ phiếu IBM giảm 25% sau khi hãng công nghệ Mỹ cảnh báo kết quả kinh doanh không đạt kỳ vọng. Làn sóng đầu tư vào hạ tầng AI đang làm dịch chuyển ngân sách của khách hàng doanh nghiệp, gây sức ép lên chiến lược chuyển đổi sang phần mềm của tập đoàn.
Đầu tư cho lớp lãnh đạo kế cận trong chiến lược quốc tế hóa

Đầu tư cho lớp lãnh đạo kế cận trong chiến lược quốc tế hóa

Trong nhiều tập đoàn lớn trên thế giới, quy hoạch lãnh đạo được xem là một cấu phần của chiến lược tăng trưởng. Tại Việt Nam, xu hướng này đang dần hình thành khi các doanh nghiệp chuẩn bị nguồn lực cho giai đoạn quốc tế hóa.
Chi phí vốn gia tăng, đâu là điểm tựa cho nhà đầu tư trong giai đoạn thị trường phân hóa?

Chi phí vốn gia tăng, đâu là điểm tựa cho nhà đầu tư trong giai đoạn thị trường phân hóa?

Thanh khoản suy giảm, lãi suất neo cao và dòng tiền thận trọng khiến thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào giai đoạn nhiều thử thách. Trong môi trường thiếu vắng dòng tiền dẫn dắt, nhà đầu tư không chỉ cần chọn lọc hơn trong việc tìm kiếm cơ hội, mà còn phải sử dụng vốn tối ưu và gia tăng khả năng chống chịu trước biến động.
Người nổi tiếng dạy con quản lý tài chính như thế nào?

Người nổi tiếng dạy con quản lý tài chính như thế nào?

Ba người mẹ - một nhà sáng tạo nội dung, một nữ doanh nhân và một CEO – cùng có chung một băn khoăn lớn là làm sao để con hiểu về tiền và biết cách quản lý tài chính từ sớm.
Tuần cao điểm chốt quyền cổ tức: Hơn 40 doanh nghiệp trả cổ tức, KSV dẫn đầu với tổng tỷ lệ 90,5%

Tuần cao điểm chốt quyền cổ tức: Hơn 40 doanh nghiệp trả cổ tức, KSV dẫn đầu với tổng tỷ lệ 90,5%

Tuần giao dịch từ 13-17/7 sẽ chứng kiến hơn 40 doanh nghiệp chốt danh sách cổ đông để chi trả quyền cổ tức bằng tiền mặt, cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng. Trong đó, Tổng công ty Khoáng sản TKV (KSV) gây chú ý với tổng tỷ lệ chi trả lên tới 90,5%, bên cạnh nhiều doanh nghiệp có mức cổ tức hấp dẫn như PV Drilling, May mặc Bình Dương, HSC và BIDV.
Cổ phiếu BCG bị hủy niêm yết bắt buộc, CEO Bamboo Capital gửi thư xin lỗi cổ đông

Cổ phiếu BCG bị hủy niêm yết bắt buộc, CEO Bamboo Capital gửi thư xin lỗi cổ đông

Hơn 880 triệu cổ phiếu BCG sẽ bị hủy niêm yết trên HoSE từ ngày 15/7 do doanh nghiệp chậm công bố hàng loạt báo cáo tài chính theo quy định. Trước quyết định này, Tổng Giám đốc Bamboo Capital đã gửi thư xin lỗi cổ đông, đồng thời khẳng định tập đoàn vẫn duy trì hoạt động và tập trung khắc phục các tồn tại về công bố thông tin.
Xu hướng quà tặng doanh nghiệp hướng đến tính ứng dụng và cá nhân hóa

Xu hướng quà tặng doanh nghiệp hướng đến tính ứng dụng và cá nhân hóa

Không chỉ dừng ở các dịp lễ, Tết, quà tặng doanh nghiệp đang được sử dụng ngày càng rộng rãi trong hoạt động chăm sóc khách hàng, đối tác và người lao động. Trước xu hướng này, nhiều doanh nghiệp cung cấp sản phẩm gia dụng, trong đó có LocknLock, đang mở rộng các giải pháp dành riêng cho thị trường B2B.
Diễn đàn Chiến lược Kinh doanh "The Future of Business": Kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho doanh nghiệp Việt trong kỷ nguyên số

Diễn đàn Chiến lược Kinh doanh "The Future of Business": Kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho doanh nghiệp Việt trong kỷ nguyên số

Ngày 22/7 tới đây, tại Trung tâm Hội nghị The Adora Athena (TP. Hồ Chí Minh), Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) chỉ đạo, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập thực hiện, sẽ tổ chức Diễn đàn Chiến lược Kinh doanh "The Future of Business" với chủ đề "Thương hiệu, Đổi mới sáng tạo và Tăng trưởng trong Kỷ nguyên số".
Cổ phiếu nhóm bất động sản tiếp tục phân hóa, lợi nhuận hướng đến doanh nghiệp có nền tảng tốt

Cổ phiếu nhóm bất động sản tiếp tục phân hóa, lợi nhuận hướng đến doanh nghiệp có nền tảng tốt

Ngày 9/7, sau phiên giảm 13 điểm VN-Index lùi về 1.840,7 điểm, kéo theo diễn biến phân hóa rõ nét ở nhóm cổ phiếu bất động sản. Theo đánh giá của các công ty chứng khoán, đây vẫn là nhóm có ảnh hưởng lớn đến xu hướng thị trường, song dòng tiền đang trở nên thận trọng hơn và tập trung vào những doanh nghiệp có nền tảng cơ bản vững chắc.
InnoEx 2026: Hơn 4.000 lãnh đạo doanh nghiệp tìm lời giải tăng trưởng tại “điểm bước ngoặt” của nền kinh tế

InnoEx 2026: Hơn 4.000 lãnh đạo doanh nghiệp tìm lời giải tăng trưởng tại “điểm bước ngoặt” của nền kinh tế

Diễn đàn và Triển lãm Quốc tế về Đổi mới sáng tạo (InnoEx 2026) sẽ diễn ra trong hai ngày 19-20/8/2026 tại Thiskyhall Sala (TP.HCM) với chủ đề “The Inflection Point – Where Global Shifts Fuel Business Reinvention” (Điểm bước ngoặt – Khi những chuyển dịch toàn cầu tái thiết mô hình tăng trưởng).
Nhà đầu tư châu Á thận trọng hơn với làn sóng AI

Nhà đầu tư châu Á thận trọng hơn với làn sóng AI

Dòng vốn tại châu Á đang chuyển sang cách tiếp cận chọn lọc hơn với trí tuệ nhân tạo, ưu tiên những doanh nghiệp có khả năng chống chịu trước sự gián đoạn công nghệ và tạo ra giá trị thực trong chuỗi AI.
BIM và bài toán nâng năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng trong kỷ nguyên số

BIM và bài toán nâng năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng trong kỷ nguyên số

Việc triển khai Mô hình thông tin công trình (BIM) không chỉ thực hiện lộ trình chuyển đổi số theo quy định của Chính phủ mà còn mở ra cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh, tối ưu chi phí và hiện đại hóa quản trị cho ngành xây dựng.
Phí sàn tăng, người bán thương mại điện tử bước vào cuộc sàng lọc khốc liệt

Phí sàn tăng, người bán thương mại điện tử bước vào cuộc sàng lọc khốc liệt

Chỉ trong thời gian ngắn, các sàn thương mại điện tử liên tiếp điều chỉnh phí, đẩy chi phí kinh doanh lên cao và thu hẹp lợi nhuận của người bán. Khi cuộc đua giá rẻ dần mất lợi thế, khả năng quản trị chi phí, vận hành và xây dựng hệ thống bán hàng đa kênh đang trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.