Một mức chênh lệch tối thiểu 1%/năm đang được đặt ra cho dòng vốn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cùng những lĩnh vực được xác định là động lực tăng trưởng kinh tế.
Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chiều 10/8, các ngân hàng thương mại (NHTM) được chỉ đạo ưu tiên DNNVV; doanh nghiệp và cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế được vay vốn với mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn, gồm ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại văn bản số 7125/NHNN-TD của NHNN gửi các NHTM và NHNN chi nhánh tại các khu vực về việc triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV kể từ tháng 8/2026.
DNNVV được đặt vào nhóm ưu tiên về chi phí vốn
Điểm đáng chú ý của chương trình không chỉ nằm ở việc mở thêm nguồn tín dụng, mà là yêu cầu tạo ra mức chênh lệch lãi suất cụ thể cho nhóm khách hàng được ưu tiên.
![]() |
| Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước chiều 10/8, NHNN có công văn chỉ đạo các ngân hàng thương mại ưu tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp và cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế được vay vốn với mức lãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn (Ảnh minh họa). |
Theo đó, mức lãi suất áp dụng cho DNNVV và các đối tượng thuộc chương trình phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân của chính ngân hàng đối với cùng kỳ hạn.
Như vậy, doanh nghiệp vay ngắn hạn sẽ được so sánh với mức cho vay bình quân ngắn hạn; khoản vay trung hạn và dài hạn cũng được xác định theo mặt bằng bình quân tương ứng.
Cùng với lãi suất, NHNN yêu cầu các ngân hàng thực hiện miễn, giảm các loại phí dịch vụ, nếu có, đối với khách hàng phù hợp với quy định pháp luật, quy mô hoạt động và năng lực của từng ngân hàng.
Đối với doanh nghiệp, đây là phần hỗ trợ có thể tác động trực tiếp tới chi phí tài chính khi khoản vay được giải ngân và sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vốn ưu đãi hướng vào những lĩnh vực nào?
Chương trình không giới hạn ở DNNVV mà mở rộng tới doanh nghiệp và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế.
Danh mục được NHNN định hướng gồm nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; xuất khẩu; kinh tế số; trí tuệ nhân tạo; công nghiệp bán dẫn; chế biến, chế tạo và các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo quy định của pháp luật.
Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn để mở rộng năng lực sản xuất, đầu tư công nghệ, nâng cao năng suất hoặc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Với cách thiết kế này, dòng tín dụng ưu đãi được định hướng vào cả khu vực DNNVV và những ngành có khả năng tạo thêm động lực cho tăng trưởng.
Đại diện NHNN cho biết: “Mục tiêu tăng trưởng ‘2 con số’ đặt ra yêu cầu lớn về nguồn lực do vậy, hệ thống ngân hàng cần tiếp tục chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ về nguồn vốn, lãi suất cho vay và điều kiện tiếp cận tín dụng cho tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt DNNVV, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững”.
Ngân hàng phải chủ động bố trí nguồn lực
Để tạo dư địa cho chương trình, NHNN đề nghị các NHTM phát huy trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng, chủ động tiết giảm chi phí, cân đối và bố trí nguồn lực để xây dựng, triển khai các chương trình, sản phẩm và gói tín dụng phù hợp.
Tinh thần được NHNN đặt ra là ngân hàng đồng hành, chia sẻ với người dân và doanh nghiệp, trong đó ưu tiên xây dựng và triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV.
Cách tiếp cận này đặt trách nhiệm triển khai không chỉ ở cơ quan quản lý mà trực tiếp ở từng ngân hàng thương mại. Việc giảm lãi suất cho vay phải đi cùng khả năng cân đối nguồn lực và tiết giảm chi phí của ngân hàng.
NHNN đồng thời khuyến khích các NHTM khác hưởng ứng tham gia, chủ động xây dựng chương trình, sản phẩm và gói tín dụng phù hợp với điều kiện, khả năng nguồn lực của từng ngân hàng.
Mục tiêu là mở rộng thêm nguồn vốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hai con số và phát triển khu vực DNNVV.
Có thể cộng hưởng nhiều chính sách ưu đãi
Một điểm có lợi cho doanh nghiệp là trường hợp khách hàng đồng thời đáp ứng điều kiện của nhiều chương trình hoặc gói tín dụng mà ngân hàng đang triển khai, ngân hàng có thể cân đối nguồn lực để thực hiện hỗ trợ một hoặc nhiều chính sách.
Đại diện NHNN cho biết: “Trường hợp khách hàng đủ điều kiện để hưởng ưu đãi của nhiều chương trình, gói tín dụng mà ngân hàng đang triển khai, các ngân hàng cân đối nguồn lực để thực hiện hỗ trợ một hoặc nhiều chính sách phù hợp với nhu cầu của khách hàng và điều kiện, năng lực của ngân hàng”.
Điều này mở ra khả năng doanh nghiệp thuộc nhiều nhóm ưu tiên có thể được ngân hàng xem xét hỗ trợ theo những chính sách phù hợp nhất với nhu cầu vốn thực tế.
Tuy nhiên, việc hưởng ưu đãi vẫn phải đặt trong khuôn khổ điều kiện tín dụng hiện hành.
NHNN nêu rõ, việc xem xét, thẩm định, quyết định cho vay đối với khách hàng, cũng như phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đối với các khoản cho vay thuộc Chương trình tín dụng, các NHTM thực hiện theo quy định hiện hành.
NHNN chi nhánh theo dõi việc triển khai tại địa phương
Cùng với yêu cầu đối với các NHTM, NHNN cũng giao nhiệm vụ cho NHNN chi nhánh tại các khu vực.
Theo đó, NHNN chi nhánh tại các Khu vực có trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi việc thực hiện của các ngân hàng tham gia Chương trình tín dụng trên địa bàn.
Các đơn vị này đồng thời phối hợp với các sở, ngành xem xét, xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện chương trình.
Những vấn đề vượt thẩm quyền phải được kịp thời báo cáo Thống đốc NHNN.
Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số đặt áp lực lớn lên nhu cầu vốn, chính sách mới đang hướng vào một vấn đề rất cụ thể của doanh nghiệp: không chỉ có vốn để vay mà phải có vốn với chi phí hợp lý hơn.
Với DNNVV, nhóm thường gặp nhiều hạn chế hơn về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận tín dụng, mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm cùng chính sách miễn, giảm phí nếu đủ điều kiện có thể tạo thêm dư địa để giảm chi phí vốn và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.