Những năm qua, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Tuyên Quang ngày càng phát huy hiệu quả, trở thành công cụ quan trọng vừa bảo vệ tài nguyên rừng, vừa nâng cao thu nhập cho người dân. Việc triển khai theo hướng công khai, minh bạch, đúng quy định đang tạo nền tảng vững chắc cho phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi số.
Năm 2025, toàn tỉnh Tuyên Quang có hơn 643 nghìn ha rừng được thực hiện chi trả DVMTR, tương đương 75,4% tổng diện tích rừng. Có 26 tổ chức và trên 53 nghìn hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư là chủ rừng được thụ hưởng chính sách. Tổng nguồn thu từ DVMTR và Quỹ trồng rừng thay thế đạt trên 172 tỷ đồng; tổng số tiền chi trả khoảng 179 tỷ đồng, bao gồm cả nguồn chuyển tiếp từ năm trước.
![]() |
| Hạt Kiểm lâm khu vực XVI tuyên truyền người dân bảo vệ rừng. |
Công tác chi trả được thực hiện theo phương châm “đúng, đủ, kịp thời”. Tỉnh Tuyên Quang đẩy mạnh thanh toán qua tài khoản ngân hàng, hạn chế chi trả tiền mặt nhằm bảo đảm công khai, minh bạch và thuận tiện trong kiểm soát dòng tiền. Từ năm 2011 đến nay, 100% đơn vị sử dụng DVMTR rừng như các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch, đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái đã ký hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Bình quân mỗi năm, tỉnh Tuyên Quang thu trên 100 tỷ đồng tiền DVMTR, trong đó hơn 90% được chi trả trực tiếp cho các chủ rừng.
Theo lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang, việc giám sát sử dụng tiền chi trả được đặc biệt coi trọng. Các chủ rừng và cộng đồng dân cư phải xây dựng phương án sử dụng kinh phí gắn với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ đó, nguồn kinh phí không chỉ hỗ trợ sinh kế mà còn trực tiếp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng tại cơ sở.
Thực tế cho thấy, khi lợi ích kinh tế gắn liền với diện tích rừng được giao, người dân chủ động hơn trong bảo vệ tài nguyên. Nhiều địa phương duy trì hiệu quả các tổ, nhóm bảo vệ rừng cộng đồng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Tỷ lệ che phủ rừng của Tuyên Quang hiện duy trì trên 62%, thuộc nhóm cao của cả nước. Rừng không còn chỉ là nguồn khai thác lâm sản phụ mà đã trở thành “tài sản xanh” mang lại thu nhập ổn định hằng năm.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc chi trả vẫn còn một số khó khăn như chậm hoàn thiện hồ sơ ở một số địa bàn, bất cập trong đo đạc ranh giới rừng do bản đồ cũ chưa đồng bộ với thực tế; người dân vùng sâu, vùng xa còn hạn chế tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Mức chi trả bình quân trên mỗi héc-ta rừng vẫn ở mức thấp so với công sức bảo vệ.
Thời gian tới, Tuyên Quang xác định đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực lâm nghiệp là giải pháp trọng tâm. Tỉnh Tuyên Quang sẽ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất rừng, số hóa hồ sơ chi trả và xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu số về dịch vụ môi trường rừng. Hệ thống này cho phép theo dõi trực tuyến diện tích rừng, lưu vực cung ứng dịch vụ và sản lượng điện thương phẩm của các nhà máy thủy điện, qua đó bảo đảm tính chính xác, công bằng trong xác định mức chi trả.
Việc nâng cao tính minh bạch, ứng dụng công nghệ số trong quản lý và chi trả không chỉ củng cố niềm tin của người dân mà còn tạo nền tảng cho phát triển lâm nghiệp bền vững, hiện đại và thích ứng với yêu cầu quản trị trong giai đoạn mới.