Theo quy định mới, tín chỉ carbon rừng là loại tài sản có thể giao dịch, phản ánh quyền phát thải tương ứng với một tấn CO2 hoặc khí nhà kính quy đổi được cắt giảm hay hấp thụ từ hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.
Đối với rừng do cá nhân, tổ chức sở hữu, chủ rừng được quyền sở hữu tín chỉ carbon hình thành từ diện tích rừng trồng của mình. Các chủ rừng có thể hợp tác với tổ chức, doanh nghiệp để triển khai dự án, xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải (MRV), đồng thời hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp tín chỉ carbon.
![]() |
Với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với lượng tín chỉ carbon tạo ra từ các dự án do cơ quan chuyên môn cấp bộ triển khai. Trong khi đó, UBND cấp tỉnh sẽ đại diện chủ sở hữu đối với tín chỉ hình thành từ các dự án do cơ quan chuyên môn địa phương thực hiện.
Nghị định cũng giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành phương pháp xác định mức chi trả hàng hóa carbon rừng. Việc xây dựng giá phải bảo đảm bù đắp chi phí triển khai dự án, đăng ký tín chỉ, hoạt động MRV, cũng như hỗ trợ công tác bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế cho người dân.
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm phân bổ chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính từ rừng cho từng địa phương và xác nhận khối lượng tín chỉ được phép giao dịch căn cứ trên số lượng tín chỉ đã được cấp. Thẩm quyền phê duyệt cấp tín chỉ carbon rừng thuộc UBND cấp tỉnh hoặc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tùy theo từng dự án cụ thể.
Theo quy định, hoạt động tạo lập và giao dịch tín chỉ carbon rừng phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đồng thời không làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.
Riêng việc chuyển nhượng tín chỉ carbon ra thị trường quốc tế tiếp tục thực hiện theo Nghị định 112. Theo đó, Chính phủ quy định tỷ lệ trần tín chỉ carbon được phép bán ra nước ngoài đối với 47 lĩnh vực như xe điện, năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời và lâm nghiệp.
Trong đó, tín chỉ từ các lĩnh vực như chuyển đổi xe điện, trạm sạc, điện gió ngoài khơi hay công nghệ thu giữ CO2 trực tiếp từ không khí được phép chuyển nhượng tối đa 90% ra nước ngoài. Riêng tín chỉ hình thành từ điện sinh khối và các dự án rừng chỉ được bán tối đa 50%, phần còn lại phải giữ lại để phục vụ mục tiêu thực hiện cam kết giảm phát thải quốc gia.