Thứ ba 06/10/2026 05:55
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Thị trường lao động Việt Nam trước tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

12/10/2020 00:00
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường lao động việt nam thời gian qua tiếp tục được phát triển theo hướng hiện đại hóa và định hướng thị trường; khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động từng bước được hoàn thiện...

Thị trường lao động của Việt Nam thời gian qua bao gồm việc chuyển dịch theo hướng tốt hơn, số người làm công ăn lương, có quan hệ lao động tăng dần.

Những điểm sáng nổi bật của thị trường lao động của Việt Nam thời gian qua bao gồm việc chuyển dịch theo hướng tốt hơn, số người làm công ăn lương, có quan hệ lao động tăng dần. Hiện số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn khoảng 40% lao động xã hội, cơ bản đạt mục tiêu đề ra là giảm lao động nông nghiệp xuống dưới 40% trong giai đoạn 2015-2020. Tỉ lệ người trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động vẫn duy trì ở mức cao, khoảng 76%. Tỉ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản là 57,1%; năng suất lao động theo giá hiện hành ước tính đạt 84,5 triệu đồng/ lao động (tương đương khoảng 3.853 USD/lao động).

Năm 2017, cả nước đã tạo việc làm cho gần 1,6 triệu người. Tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam cũng ở mức thấp so với khu vực, trong đó, tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị giảm xuống chỉ còn 3,19%. Chất lượng việc làm, thu nhập của người lao động đều đặn được tăng lên, mức độ phân biệt giữa việc trả công cho lao động nam và nữ cũng đã thu hẹp. Số lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng tiếp tục tăng. Năm 2017, cả nước đã đưa hơn 130.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, vừa mang về cho ngân sách quốc gia nguồn lực tài chính, vừa tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc. Theo dự báo, từ nay đến năm 2025, lực lượng lao động Việt Nam tăng 1,28%/năm. Lực lượng lao động xã hội sẽ tăng từ gần 55 triệu người năm 2017 lên 62 triệu người vào năm 2025.

Tuy vậy, tại thị trường lao động Việt Nam mấy năm qua, số người thất nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, vẫn rất cao. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện có khoảng hơn 200.000 người có trình độ từ đại học trở lên và khoảng 80.000 người có trình độ cao đẳng đang trong tình trạng tìm kiếm việc làm, hoặc không có việc làm. Nhiều sinh viên khi ra trường có việc làm, nhưng lại làm trái ngành, nghề được đào tạo. Tình trạng doanh nghiệp tìm cách sa thải ao động từ 35, 40 tuổi vì nhiều lý do đã xuất hiện thời gian qua và có xu hướng chưa chấm dứt. Đa số lao động bị sa thải hoặc mất việc đều muốn nhận bảo hiểm thất nghiệp một lần, chưa quan tâm đến việc học nghề, tìm kiếm cơ hội việc làm khác, để có thể quay lại thị trường lao động. Nếu những hạn chế, bất cập nêu trên không sớm được khắc phục thì thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 có nguy cơ đổ vỡ với quy mô lớn.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, CMCN 4.0 tạo ra nguy cơ mất lao động hàng loạt song sẽ mang tới nhiều ngành nghề mới, cơ hội mới. "Lạc quan nhìn lại các cuộc cách mạng trong quá khứ, bao giờ cũng có những lao động, ngành nghề mất đi, nhưng cũng sẽ sản sinh ra lao động, ngành nghề mới", Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện Đối thoại chính sách cao cấp về phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, trong khuôn khổ Hội nghị các quan chức cao cấp APEC lần thứ 2 (SOM 2) ở Hà Nội. Phó Thủ tướng cho rằng, cuộc CMCN 4.0 và kỷ nguyên số, không chỉ giúp tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế mà còn mở ra một chân trời kết nối giữa con người với con người.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, CMCN 4.0 tạo ra nguy cơ mất lao động hàng loạt song sẽ mang tới nhiều ngành nghề mới, cơ hội mới

Trong CMCN 4.0, những yếu tố mà từ trước đến giờ, chúng ta tự coi là có ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, dồi dào, giá rẻ, sẽ không còn là thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng. Với sự bùng nổ ứng dụng Internet, công nghệ số, thiết bị thông minh, robot, vào sản xuất như hiện nay, đang đặt ra nhiều thách thức cho nguồn nhân lực Việt Nam. Vì vậy, trong tương lai gần, Việt Nam cũng có thể sẽ phải chịu sức ép về vấn đề giải quyết việc làm và phải đối mặt với sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm vì quy mô dân số lớn, nhưng chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp và chưa thích ứng với yêu cầu của cuộc CMCN 4.0. 46 triệu lao động Việt Nam chưa qua đào tạo sẽ đứng trước nguy cơ không có cơ hội tham gia làm những công việc có mức thu nhập cao, bị thay thế bởi robot, trang thiết bị công nghệ thông minh… Trong tương lai, người dân có thể mất việc làm bởi những lĩnh vực mà công nghệ robot có thể tác động tới bao trùm từ dệt may, dịch vụ, giải trí cho đến y tế, giao thông, giáo dục...

Tác động đến nguồn lực chất lượng cao, đặc biệt là các kỹ sư công nghiệp, và các robot thực hiện công việc nhiều hơn, sẽ bị phá hoại nếu các kỹ sư không điều khiển được chúng. Do đó, các kỹ sư công nghiệp phải tìm hiểu sâu thế giới của công nghệ thông tin và truyền thông để đối phó với các hệ thống phức tạp. Như vậy, với CMCN 4.0 không phải biến các kỹ sư thành các nhà khoa học dữ liệu chuyên nghiệp hoặc các chuyên gia, mà thay vào đó, trang bị cho họ kiến thức và kỹ năng trong những lĩnh vực tương ứng để giúp ọ làm việc được trong điều kiện mới. Ví dụ, cung cấp cho họ những kỹ năng mô phỏng mô hình nhà máy ảo, truyền thông dữ liệu và mạng tự động hóa hệ thống, các giao diện người - máy nhân tạo, kỹ thuật chuyển đổi kỹ thuật số - vật lý, chẳng hạn như in ba chiều, hệ thống quản lý và kiểm soát chất lượng quá trình sản xuất sản phẩm và quy trình sản xuất tích hợp, hệ thống tối ưu hóa hàng tồn kho và hậu cần.

Đồng thời, với các quá trình này, người lao động sẽ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp và bất bình đẳng gia tăng. Những lao động có tay nghề thấp hơn, đặc biệt là lao động trong các gia đình, lao động văn phòng và hành chính, sản xuất có thể bị rơi vào vòng luẩn quẩn, nơi đại bộ phận người lao động có kỹ năng thấp, có nghĩa họ có thể phải đối mặt với sa thải. Để tránh bị sa thải, thế hệ người lao động trong tương lai phải hiểu và phải được trang bị kỹ thuật số thành thạo và suốt đời. Như vậy, tương ứng với yêu cầu của CMCN 4.0, người lao động phải nâng cao năng lực học tập, thuần phục các kỹ năng giải quyết vấn đề, trực giác, sáng tạo và thuyết phục, các kỹ năng tự tổ chức, quản lý, kĩ năng làm việc nhóm, hoặc kỹ năng giao tiếp cũng phải được đào tạo. Đây là yêu cầu tiên quyết, không trì hoãn nếu không muốn tụt hậu tiếp. Các rào cản còn đến từ sự thiếu hiểu biết và hạn chế nguồn lực và áp lực lợi nhuận ngắn hạn và thiếu sự liên kết giữa các chiến lược về nguồn nhân lực và chiến lược đổi mới của các doanh nghiệp.

CMCN 4.0 sẽ đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt là thị trường lao động phải có sự thay đổi căn bản về cơ cấu lao động, cơ cấu các nguồn lực để hỗ trợ thị trường, cơ cấu về trình độ lao động. Người lao động phải có sự thích ứng cao hơn để đáp ứng những công việc mới và tránh bị đào thải. Đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, tự động hóa, nông nghiệp công nghệ cao, chăm sóc sức khỏe... Đây là những cách thức mở ra cơ hội việc làm cho thanh niên ở cả trong nước và quốc tế. Ngoài ra, CMCN 4.0 cũng ảnh hưởng đến lĩnh vực đào tạo và đào tạo lại. Với CMCN 4.0, chúng ta buộc phải thay đổi phương thức đào tạo truyền thống để sang phương thức đào tạo linh hoạt, hiệu quả, chú trọng đào tạo các kỹ năng, chú trọng đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn và đáp ứng yêu cầu của văn hóa học tập suốt đời.

Box: Doanh nghiệp và nhà trường cần chủ động kết nối. Việc hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là yếu tố tiên quyết tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho CMCN 4.0. Kết nối cung - cầu giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực là rất quan trọng. Điều này giúp cho các nhà trường hiểu và nắm bắt được nhu cầu của các doanh nghiệp về kỹ thuật, công nghệ và đặc biệt là yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của các ứng viên, dự tuyển vào doanh nghiệp, từ đó giúp các trường xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng ngay được đòi hỏi của công việc

Quang Thọ

Tin bài khác
Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP sau 9 tháng

Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP sau 9 tháng

Với GRDP quý III tăng 15,04%, lũy kế 9 tháng tăng 12,54%, Quảng Ninh đang giữ vị trí dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng, tạo nền tảng để địa phương hướng tới mục tiêu vượt 13% trong năm 2026.
Gần 1 triệu tỷ đồng đầu tư công bước vào chặng nước rút

Gần 1 triệu tỷ đồng đầu tư công bước vào chặng nước rút

Sau 9 tháng, giải ngân vốn đầu tư công đã đạt 642.961,6 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ năm trước cả về tỷ lệ và giá trị tuyệt đối. Khi quý IV bắt đầu, áp lực hoàn thành kế hoạch cũng đồng thời mở ra một thị trường đáng chú ý cho các doanh nghiệp xây dựng, vật liệu, thiết bị và dịch vụ liên quan.
Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 9 đã chuyển sang xuất siêu 1,27 tỷ USD, song tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Tính đến 12 giờ ngày 30/9/2026, Đắk Lắk đã ghi nhận dòng vốn đầu tư công giải ngân đạt hơn 7.096,5 tỷ đồng, chính thức cán mốc 101% so với cam kết đăng ký với Bộ Tài chính. Sự bứt phá này cho thấy hiệu quả điều hành sát sao của chính quyền, song áp lực giải ngân 100% cho cả năm vẫn đòi hỏi những chuyển dịch quản trị quyết liệt, không có chỗ cho sự chủ quan.
TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh vươn lên vị trí 67 trong bảng xếp hạng Trung tâm Tài chính Toàn cầu, tăng 17 bậc so với kỳ đánh giá tháng 3/2026. Kết quả này cho thấy vị thế tài chính của Thành phố đang được cải thiện, nhưng bài toán tiếp theo là biến thứ hạng thành sức hút dòng vốn thực tế.
Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

Hạ tầng An Giang cần cất cánh trước khi rước “đại bàng” về xây tổ

APEC 2027 tại Phú Quốc đang đến gần, tạo thêm động lực để An Giang đẩy nhanh hạ tầng giao thông, tăng khả năng kết nối Rạch Giá, Long Xuyên, Phú Quốc với mạng lưới cao tốc, hàng không, đường thủy, qua đó mở rộng không gian phát triển và tạo thêm điều kiện thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Hà Nội mở đường tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Từ khó tiếp cận vốn, định giá tài sản trí tuệ đến bài toán thương mại hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường, hàng loạt vướng mắc của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số đã được Hà Nội trực tiếp lắng nghe, phân loại và đưa ra hướng xử lý.
Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Công nghiệp công nghệ số tăng tốc, doanh thu 9 tháng vượt 5,38 triệu tỷ đồng

Doanh thu công nghiệp công nghệ số tháng 9/2026 ước đạt 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, lĩnh vực này đạt khoảng 5,39 triệu tỷ đồng, tăng 32,1%, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao.