Theo Quyết định, Danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ được phân loại theo ba cấp độ: Tuyệt mật, Tối mật và Mật, với phạm vi điều chỉnh tập trung vào các nhiệm vụ, chương trình khoa học – công nghệ có liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng.
Bí mật nhà nước độ Tuyệt mật bao gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt hoặc chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh, có ý nghĩa quyết định đến khả năng tác chiến, phòng thủ và bảo vệ Tổ quốc. Các nội dung thuộc độ Tuyệt mật gồm chương trình, thuyết minh, báo cáo tiến độ, báo cáo tổng hợp, báo cáo kết quả, sản phẩm; báo cáo thẩm định, quyết định phê duyệt, hợp đồng giao nhiệm vụ; cùng các văn bản, tài liệu liên quan trong quá trình xây dựng, phê duyệt, tổ chức triển khai và đánh giá hiệu quả, tác động của nhiệm vụ, chương trình.
![]() |
| Quy định mới về bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ |
Bí mật nhà nước độ Tối mật là thông tin về nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt hoặc chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt có tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia, trừ các nội dung thuộc độ Tuyệt mật. Các tài liệu, hồ sơ liên quan đến chương trình, nhiệm vụ; báo cáo thẩm định, quyết định phê duyệt, hợp đồng giao nhiệm vụ và các văn bản trong quá trình tổ chức thực hiện, đánh giá đều thuộc phạm vi bảo vệ ở cấp độ này.
Bí mật nhà nước độ Mật gồm nhiều nhóm thông tin quan trọng. Trong đó có báo cáo, tờ trình, văn bản xin ý kiến về chủ trương, chính sách mới trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ quốc phòng, an ninh; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Ngoài ra, độ Mật còn bao gồm thông tin về các nhiệm vụ, chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cấp quốc gia, bộ, ngành và địa phương có nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền lãnh thổ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, cũng như các vấn đề kinh tế – xã hội, y tế đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia – dân tộc. Các tài liệu như chương trình, báo cáo, quyết định phê duyệt, hợp đồng giao nhiệm vụ và hồ sơ đánh giá kết quả đều thuộc diện bảo vệ.
Đáng chú ý, Danh mục bí mật nhà nước độ Mật còn bao gồm thông tin về sáng chế phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội; thông tin liên quan đến năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; các kế hoạch, phương án ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân; chương trình, dự án hợp tác quốc tế về nhiên liệu và vật liệu hạt nhân.
Bên cạnh đó, các văn bản về phân bổ tần số vô tuyến điện phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; hồ sơ xử lý nhiễu có hại tần số; thiết kế kỹ thuật của mạng viễn thông dùng riêng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước; cũng như thiết kế kỹ thuật các công trình viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia đều được xếp vào diện bí mật nhà nước.
Quyết định số 137/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (19/01/2026) và thay thế Quyết định số 1294/QĐ-TTg ngày 24/8/2020 về Danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, đồng thời thay thế khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Quyết định số 2238/QĐ-TTg ngày 29/12/2020 về Danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Việc ban hành Danh mục bí mật nhà nước mới được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất, chặt chẽ hơn trong công tác quản lý, bảo vệ thông tin mật, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới.