Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

DNHN - Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm quy định mới về cách xác định thẩm quyền và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Luật doanh nghiệp 2014 định nghĩa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp như sau: “Là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. (Ảnh: minh hoạ)

Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL) của doanh nghiệp. Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL được quy định chi tiết tại Điều lệ công ty. Nếu doanh nghiệp có nhiều hơn một NĐDTPL thì Điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người.

Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm quy định mới về cách xác định thẩm quyền và trách nhiệm của NĐDTPL trong trường hợp Điều lệ công ty chưa quy định rõ quyền, nghĩa vụ của từng NĐDPL, theo đó:

Mỗi NĐDTPL của doanh nghiệp đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba;

NĐDTPL phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

NĐDTPL của từng loại hình doanh nghiệp được quy định cụ thể như sau:

Đối với doanh nghiệp tư nhân thì NĐDPL là chủ doanh nghiệp tư nhân.

Đối với Công ty hợp danh thì NĐDPL là các thành viên hợp danh.

Đối với Công ty TNHH một thành viên: Trường hợp tổ chức là chủ sở hữu thì Công ty phải có ít nhất một NĐDTPL là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;

Trường hợp Điều lệ công ty không quy định: Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là NĐDTPL của công ty.

Trường hợp cá nhân là chủ sở hữu: Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì thông thường Chủ tịch công ty sẽ là NĐDTPL của công ty; Công ty nên quy định chi tiết NĐDTPL trong Điều lệ công ty, pháp luật không có quy định hạn chế hay chỉ định đối với NĐDPL của công ty TNHH MTV do cá nhân là chủ sở hữu.

Đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Công ty phải có ít nhất một NĐDTPL là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên là NĐDTPL của công ty.

Đối với Công ty cổ phần: Trường hợp công ty chỉ có một NĐDTPL: Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là NĐDPL của công ty;

Trường hợp Điều lệ chưa có quy định: Chủ tịch Hội đồng quản trị là NĐDTPL của công ty;

Trường hợp công ty có hơn một NĐDTPL: Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là NĐDTPL của công ty.

Phương Ngân

Tin liên quan