Ngân hàng quốc doanh dần để mất thị phần tín dụng

DNHN - Nhìn chung, các ngân hàng quốc doanh đã mất 142 điểm cơ bản thị phần tín dụng trong 5 năm qua do chủ yếu dựa vào khoản cho vay khách hàng để tăng trưởng dư nợ tín dụng.

Nhóm ngân hàng quốc doanh ở đây gồm Vietcombank, BIDV, Vietinbank và Agribank. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm của nhóm này từ 11,7% đến 16,2%.

Trong đó, Vietcombank là ngân hàng duy nhất trong nhóm đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn trung bình toàn ngành, 16,2% so với 14,6%. Ngân hàng đã duy trì tốt đà tăng trưởng tín dụng với hệ số an toàn vốn (CAR) ổn định và mức ROE cao (trên 20%).

VietinBank bị hạn chế bởi nền tảng vốn mỏng, tỷ lệ đòn bẩy cao, hiệu quả thấp và không đủ dư địa để pha loãng tỷ lệ sở hữu của Nhà nước. Ngân hàng đã đạt tăng trưởng tín dụng hàng năm một con số trong giai đoạn 2018-2020 và thị phần của ngân hàng đã giảm 151 điểm cơ bản trong 5 năm qua. 

Hay như Agribank cũng bị mất thị phần tín dụng. Tỷ lệ CAR, theo chuẩn Basel 2, chỉ ở mức 6% trong năm 2020 và thị phần giảm 80 điểm cơ bản so với đỉnh năm 2018.

Thị phần tín dụng và tăng trưởng kép bình quân của dư nợ tín dụng giai đoạn 2016 - 2020. 

BIDV cũng đã chứng kiến tăng trưởng tín dụng chậm lại những năm gần đây, khi tác động tích cực từ đợt phát hành riêng lẻ giảm dần. Tỷ lệ CAR của BIDV tính đến nửa đầu năm 2020 ở mức 8,97%, gần mức yêu cầu 8% của Basel 2. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp tại BIDV tăng trưởng âm tạo thêm dư địa cho vay khách hàng, do áp lực từ nền vốn mỏng lên hạn mức mở rộng tín dụng. 

Nhìn chung, các ngân hàng quốc doanh đã mất 142 điểm cơ bản thị phần tín dụng trong 5 năm qua do chủ yếu dựa vào khoản cho vay khách hàng để tăng trưởng dư nợ tín dụng. Riêng Vietcombank là một ngoại lệ, với mức tăng 64 điểm cơ bản.

Với nhóm ngân hàng tư nhân lớn nắm giữ trên 2% thị phần (MB, Techcombank, VPBank, Sacombank, ACB, SHB), triển vọng là khác nhau giữa các ngân hàng trong nhóm. Nhóm này đã tăng khoảng 3,5% thị phần tín dụng kể từ cuối năm 2015. MB đứng đầu về tốc độ tăng trưởng, sau đó là Techcombank và VPBank, trong khi ACB tăng trưởng chậm hơn.

Bốn ngân hàng này cũng vượt trội hơn các ngân hàng khác trong nhóm về giá trị vốn hóa thị trường. Sacombank là ngân hàng duy nhất trong nhóm này đánh mất thị phần tín dụng. Khẩu vị rủi ro và độ dày vốn được phản ánh thông qua mức tăng trưởng tín dụng bình quân 5 năm, trong đó Sacombank có mức thấp nhất (14,5%) do quá trình xử lý tài sản xấu tồn đọng.

MB, Techcombank, VPBank là những công ty có tốc độ tăng trưởng tín dụng kép hàng năm trên 20%, với hệ số an toàn vốn của các ngân hàng này thuộc hàng đầu. 

Đóng góp trái phiếu doanh nghiệp vào tăng trưởng tín dụng giao đoạn 2016-2019 và năm 2020. 

Đáng chú ý, VDSC cho rằng có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang trái phiếu doanh nghiệp vào năm 2020 để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, trong một năm mà nhu cầu vay vốn bị ảnh hưởng. Techcombank, mặc dù có tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2016-2019 một phần đóng góp từ trái phiếu doanh nghiệp (14%), đã tăng mạnh tỷ trọng công cụ nợ này vào năm 2020.

Sáu ngân hàng trong nhóm này đã tăng số dư trái phiếu doanh nghiệp thêm 88 nghìn tỷ đồng trong năm 2020, chiếm tỷ trọng khá lớn trong tăng trưởng tín dụng. Tỷ lệ đóng góp của trái phiếu doanh nghiệp vào tăng trưởng tín dụng năm 2020 trong nhóm dao động từ 20% (MB) đến 38% (Sacombank).

Với nhóm ngân hàng quy nhỏ còn lại có thị phần trên 1% (TPBank, VIB, Eximbank…), hầu hết đều có tăng trưởng tín dụng cao trong giai đoạn 2016 - 2020, nhưng TPBank là ngân hàng duy nhất có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm trên 30%.

Bên cạnh đó, cũng có một số ngân hàng đi ngược thị trường, như Eximbank đã dính nhiều lùm xùm trong hoạt động khiến ngân hàng tăng trưởng âm trong năm 2020 và thị phần tín dụng của ngân hàng này cũng giảm mạnh.

Dự báo cho năm 2021, VDSC cho rằng các ngân hàng tư nhân lớn, bao gồm Techcombank, MB, VPBank, ACB dự kiến sẽ duy trì xu hướng tăng trưởng tín dụng, đạt trên mức trung bình của ngành. Đồng thời, thị phần tín dụng của các ngân hàng nhóm quốc doanh trong ngắn hạn sẽ duy trì xu hướng giảm do thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng trưởng cao và áp lực về vốn lớn.

PV

Tin liên quan