Trong bối cảnh nền kinh tế không ngừng biến đổi và những thách thức đối với doanh nghiệp ngày càng gia tăng, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài chính của người lao động và doanh nghiệp. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam để tìm hiểu về cách nâng cao chất lượng và hiệu quả của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong cộng đồng doanh nghiệp.
Thưa ông, ông có thể cho biết tại sao chính sách bảo hiểm thất nghiệp quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNV) ở Việt Nam?
Ông Tô Hoài Nam: Những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng (hiện có gần 900 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, trên 25 nghìn hợp tác xã và hơn 5 triệu hộ kinh doanh), doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động, nhất là về nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận, tạo công ăn, việc làm và thu nhập cho người lao động.
Khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% GDP, khoảng 30% tổng số lao động đang làm việc trong toàn bộ nền kinh tế. Các doanh nghiệp, doanh nhân có mặt trong hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực.
Nhiều doanh nghiệp, doanh nhân đã tạo dựng được uy tín, khẳng định giá trị thương hiệu, vươn tầm ra khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong thời gian gần đây đã xuất hiện một lực lượng doanh nhân trẻ, năng động, khởi nghiệp thành công với các mô hình kinh doanh mới, sáng tạo, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục có bước phát triển cả về quy mô và năng lực sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, trên 97% doanh nghiệp cả nước là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.
Do vậy, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro tài chính của người lao động và doanh nghiệp khi họ gặp khó khăn về tài chính khi mất việc làm và thất nghiệp.
Hãy tưởng tượng nếu một doanh nghiệp nhỏ phải sa thải nhân viên vì khó khăn tài chính và không có bảo hiểm thất nghiệp, tác động với người lao động trong giai đoạn thất nghiệp và tìm kiếm việc làm mới là vô cùng khó khăn.
Ông có thể cho biết một vài ví dụ mà khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động với đơn vị sử dụng lao động, thì bảo hiểm thất nghiệp được coi là chính sách an sinh xã hội hữu ích?
Ông Tô Hoài Nam: Hiện nay, về cơ bản các doanh nghiệp đều tham gia đóng BHTN cho công nhân, người lao động. Lấy ví dụ địa bàn Thanh Hóa: Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Thanh Hóa là một doanh nghiệp Nhà nước có hình thức kinh doanh đặc thù. Tại đây, gần 50% lực lượng lao động trong công ty hoạt động theo tính chất hành chính. Phần lao động còn lại phải đi cơ sở hàng tuần, để thực hiện nhiệm vụ mở rộng thị trường, xây dựng đại lý và khai thác doanh thu.
Hằng năm, ban chấp hành công đoàn đã tham gia với ban lãnh đạo công ty xây dựng các phương án sản xuất, kinh doanh, kế hoạch công tác, xây dựng nội quy, quy chế và chế độ, chính sách đối với người lao động. Bên cạnh đó, ban chấp hành công đoàn cũng đã kiến nghị với lãnh đạo công ty điều chỉnh những bất cập trong chế độ, chính sách, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người lao động; đồng thời giám sát việc thực hiện chế độ theo quy định về đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động... Theo đó, 100% cán bộ, người lao động của công ty được đóng đầy đủ về BHXH, BHYT, BHTN. Riêng BHTN thì hàng tháng, công ty đóng với tổng số tiền 4,3 triệu đồng cho 44/44 cán bộ, người lao động trong công ty. Lãnh đạo Công ty này đã từng chia sẻ: Để người lao động luôn gắn kết với doanh nghiệp, thì việc đầu tiên là phải bảo đảm các chế độ, để họ yên tâm công tác. Đối với BHTN, công ty rất quan tâm và đóng đầy đủ để khi người lao động xin nghỉ việc thì vẫn được hưởng các chế độ, quyền lợi.
Hay tại Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông, từ khi thành lập đến nay, công ty luôn thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động. Hiện 437 lao động đang làm việc tại doanh nghiệp này đều được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách. Đối với chế độ bảo hiểm thất nghiệp, ông Nguyễn Công Tuấn, Chủ tịch công đoàn cho biết: Sau khi người lao động vào thử việc 1 tháng, thì công ty sẽ ký hợp đồng lao động; đồng thời đóng luôn BHXH, BHYT, BHTN. Nếu không đóng BHTN cũng đồng nghĩa với việc công ty đã làm sai quy định.
Vậy theo ông, những thách thức mà chính sách hiểm thất nghiệp đang phải đối mặt tại Việt Nam là gì?
Ông Tô Hoài Nam: Tại Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội đã chỉ rõ: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự gắn bó với thị trường lao động, mới tập trung nhiều cho khu vực chính thức, chưa có chính sách phù hợp cho khu vực phi chính thức, còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chưa chú ý thỏa đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế. Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều điểm bất cập.
Có một số thách thức quan trọng mà chính sách bảo hiểm thất nghiệp cần đối mặt tại Việt Nam. Đầu tiên, có sự nhận thức chưa đủ rộng rãi về tầm quan trọng của bảo hiểm thất nghiệp trong cộng đồng doanh nghiệp. Nhiều người lao động vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích mà họ có thể hưởng từ việc đóng - hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Thách thức thứ hai là việc xây dựng mô hình bảo hiểm hiệu quả và thúc đẩy tính đóng góp từ cả doanh nghiệp và người lao động. Điều này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan, bao gồm chính phủ, các cơ quan chức năng, và doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế, trong đó có nguyên nhân về tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp như còn giới hạn trong phạm vi địa phương nên tính liên kết, liên thông còn yếu, hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm còn chưa phù hợp với chức năng là định chế trung gian tài chính trên thị trường lao động, còn nặng về khâu giải quyết trợ cấp thất nghiệp mà chưa có nhiều hoạt động chủ động, tích cực của chính sách thị trường lao động....
Vậy ông nghĩ nên làm gì để nâng cao chất lượng và hiệu quả của chính sách bảo hiểm thất nghiệp?
Ông Tô Hoài Nam: Để bảo hiểm thất nghiệp thật sự trở thành công cụ quản trị thị trường lao động, tôi được biết Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đang nỗ lực sửa đổi bổ sung các chính sách. Ví dụ như đề án “Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan và đơn vị thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp” đã được phê duyệt. Theo tôi đây là cơ hội để đánh giá lại hiện trạng tổ chức thực hiện, những khó khăn vướng mắc, trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp và đề xuất với các cấp có thẩm quyền để hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật cũng như tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.
Đề án đã đặt ra các mục tiêu rất cụ thể. Đó là, đến năm 2025 phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động tham gia Bảo hiểm thất nghiệp; 100% người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí khi có nhu cầu; 15% người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ đào tạo. Cùng với đó là hoàn tất việc kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu về Bảo hiểm thất nghiệp giữa cơ quan Lao động Thương binh và Xã hội với cơ quan bảo hiểm xã hội; 100% nhân sự thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp tại các Trung tâm Dịch vụ việc làm được đào tạo, được cấp chứng chỉ nghiệp vụ và bồi dưỡng chuyên sâu; 100% trung tâm dịch vụ việc làm đạt tiêu chuẩn và được hiện đại hóa; thực hiện tiêu chí đánh giá năng lực và hiệu quả của trung tâm dịch vụ việc làm trong việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp; Chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp đạt 85%…Đặc biệt, giai đoạn đến năm 2030: chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt mức 90%.
Đề án đã đưa ra 12 nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị thực hiện bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó, nhóm giải pháp về hoàn thiện tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp nhấn mạnh đến việc tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, phải đảm bảo tính liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan tổ chức thực hiện, chủ động phát huy giá trị cốt lõi của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề và duy trì việc làm; gắn kết giữa giải quyết các chế độ cùng với việc chi trả bảo hiểm thất nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện.
Đồng thời cũng kiến nghị, đề xuất về bảo hiểm thất nghiệp đối với Quốc hội, Chính phủ trong đó nhấn mạnh về việc hoàn thiện chính sách việc làm, chính sách bảo hiểm thất nghiệp để bảo hiểm thất nghiệp thực sự trở thành công cụ quản trị thị trường lao động hiệu quả theo hướng sửa đổi, bổ sung Luật Việc làm: xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp thành chính sách bảo hiểm việc làm và điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp....
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của chính sách và giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chúng ta cần thực hiện một số biện pháp quan trọng.
Trước hết, cần tăng cường giáo dục và tạo ra sự nhận thức về tầm quan trọng của bảo hiểm thất nghiệp trong cộng đồng doanh nghiệp. Chúng ta cần giải thích rõ lợi ích của chính sách đối với cả người lao động và doanh nghiệp.
Thứ hai, việc tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan, đơn vị thực hiện bảo hiểm thất nghiệp cần được chú trọng. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên tất cả các lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp.
Cuối cùng, chúng ta cần thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm Chính phủ, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và doanh nghiệp, để tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển việc làm của người lao động và đảm bảo tính bền vững của nó trong tương lai.
Cảm ơn ông về những chia sẻ!
Bảo Phương (t/h)