Thứ sáu 02/10/2026 03:13
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Nghiên cứu - Dữ liệu

Lý giải chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhân văn và ưu việt

Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn mở rộng cơ hội học nghề, tái hòa nhập thị trường lao động.
Lý giải chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhân văn và ưu việt

Trong bối cảnh thị trường lao động liên tục biến động, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là tấm "phao cứu sinh" tài chính cho người lao động khi mất việc, mà còn là công cụ đắc lực hỗ trợ tái hòa nhập thị trường. Với nhiều chính sách thiết thực, nhân văn và ngày càng đổi mới, bảo hiểm thất nghiệp đang chứng minh là một phần không thể thiếu trong hệ thống an sinh xã hội hiện đại.

Không chỉ hỗ trợ tài chính – mà còn mở đường trở lại thị trường lao động

Từ khi được triển khai vào năm 2009, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã đồng hành cùng hàng triệu lao động trong giai đoạn khó khăn nhất của sự nghiệp. Không chỉ đơn thuần là khoản trợ cấp tài chính giúp người lao động cầm cự khi mất việc, chính sách BHTN còn bao gồm các hỗ trợ gián tiếp như tư vấn giới thiệu việc làm và đào tạo nghề.

Bà Hồ Thị Kim Ngân – Phó trưởng Ban quan hệ lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) – nhận định rằng BHTN là một chính sách nhân văn, mang tính ưu việt cao. Nó không chỉ giúp người lao động có nguồn thu nhập tạm thời để ổn định cuộc sống mà còn tạo điều kiện để họ nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế số hóa đang phát triển nhanh chóng.

Lý giải chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhân văn và ưu việt

Đặc biệt, những quy định mới trong dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) còn mở rộng quyền lợi của người lao động như hỗ trợ cả “tiền ăn” trong thời gian đào tạo, hỗ trợ trước khi chấm dứt trợ cấp… Điều này thể hiện rõ định hướng nhân văn, tạo sự chủ động và bền vững cho người lao động khi tái gia nhập thị trường.

Vì sao người lao động vẫn chưa mặn mà với học nghề?

Mặc dù chính sách đào tạo nghề là điểm sáng trong hệ thống BHTN, nhưng trên thực tế, số lao động đăng ký học nghề vẫn còn khiêm tốn. Bà Vũ Thị Thanh Liễu – Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội – cho biết phần lớn lao động thất nghiệp là trụ cột kinh tế của gia đình. Do vậy, khi mất việc, họ ưu tiên nhận trợ cấp tài chính để duy trì sinh hoạt, thay vì dành thời gian và công sức để học nghề.

Ngoài ra, một số rào cản khác khiến việc học nghề chưa thu hút được đông đảo lao động có thể kể đến như:

Mức hỗ trợ đào tạo thấp: Tối đa chỉ 1,5 triệu đồng/người/tháng, khó đáp ứng yêu cầu đào tạo chất lượng.

Thời gian học không linh hoạt: Nhu cầu học nghề của lao động thường phân tán về địa điểm và thời gian, gây khó khăn trong tổ chức lớp học.

Thiếu động lực từ thị trường lao động: Nhiều doanh nghiệp chưa ưu tiên tuyển dụng lao động có trình độ sơ cấp, nên người lao động chưa thấy được lợi ích cụ thể từ việc học nghề.

“Đầu ra” cho ngành học hạn chế: Một số ngành nghề sau học xong khó kiếm việc, làm người lao động e dè trong quyết định đầu tư thời gian học lại.

Ông Nguyễn Tây Nam – Phó Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội – cũng nhấn mạnh rằng tình trạng người lao động đăng ký hưởng BHTN ngày càng tăng qua các năm, nhưng tỷ lệ chọn học nghề vẫn chưa tương xứng.

Lý giải chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhân văn và ưu việt

Những giải pháp để “kích hoạt” tinh thần học nghề

Trước thực trạng đó, các cơ quan liên quan đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thúc đẩy người lao động thất nghiệp tham gia học nghề.

Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của Sở Nội vụ, đã tổ chức thường xuyên các hội nghị tuyên truyền về BHTN, đặc biệt nhấn mạnh quyền lợi và lợi ích từ việc học nghề. Hàng năm, trung tâm mở nhiều lớp đào tạo đa dạng như: lái xe, pha chế, chế biến món ăn, may mặc… đáp ứng nhu cầu thiết thực của thị trường và người học.

Bà Vũ Thị Thanh Liễu cho biết, sau khi hoàn thành khóa học, người lao động được trung tâm kết nối với doanh nghiệp để tìm kiếm việc làm phù hợp, hoặc hỗ trợ khởi nghiệp nếu có nhu cầu. Nhờ những nỗ lực này, số người học nghề đã có dấu hiệu tăng đáng kể. Riêng năm 2024, Hà Nội có 1.162 người lao động có quyết định học nghề – tăng 49% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý 1/2025, con số này tiếp tục khả quan với 240 người đăng ký học nghề, tăng 26% so với quý 1/2024. Mặc dù tỷ lệ này còn khiêm tốn so với tổng số người hưởng trợ cấp, nhưng sự chuyển biến tích cực này đã cho thấy hiệu quả từ việc thay đổi cách tiếp cận chính sách.

Một điểm đáng chú ý trong Dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) là đề xuất hỗ trợ học nghề ngay cả khi người lao động chưa rơi vào tình trạng thất nghiệp. Đây là một bước tiến lớn, thể hiện tinh thần dự phòng rủi ro và nâng cao năng lực lao động trong bối cảnh chuyển đổi số và biến động nghề nghiệp ngày càng lớn.

Dự thảo cũng mở rộng quyền lợi về tài chính cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng có nhu cầu học nâng cao kỹ năng – bao gồm học phí đào tạo, tiền ăn trong thời gian học, thời gian hỗ trợ tối đa lên đến 6 tháng.

Lý giải chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhân văn và ưu việt

Điều đặc biệt là chính sách BHTN không phân biệt độ tuổi, giới tính, tôn giáo hay vùng miền, mở ra cơ hội công bằng cho mọi người lao động có nhu cầu.

Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là “tấm khiên” chống đỡ trước rủi ro mất việc mà còn là “chiếc cầu” đưa người lao động quay lại thị trường với vị thế vững vàng hơn. Tính nhân văn thể hiện không chỉ ở khoản trợ cấp tạm thời mà còn ở sự đầu tư cho tương lai – thông qua đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng, hỗ trợ tái định hướng nghề nghiệp.

Với những đổi mới trong chính sách, đặc biệt là sự bổ sung trong dự thảo Luật Việc làm, BHTN ngày càng hoàn thiện hơn để không chỉ "cứu nguy" mà còn "phát triển", đồng hành cùng người lao động trong hành trình sự nghiệp.

Tin bài khác
Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Sinh viên mất nhiều năm học kiến thức, doanh nghiệp tiếp tục mất thêm thời gian và chi phí đào tạo khi tuyển người mới. Khoảng cách giữa giảng đường và công việc thực tế đang tạo ra một vòng quay lãng phí, đòi hỏi nhà trường, doanh nghiệp và sinh viên cùng thay đổi.
TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

Thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh đang cho thấy độ lệch đáng chú ý giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn cung nhân lực. Trong tháng 9/2026, doanh nghiệp cần hơn 26.500 lao động nhưng chỉ có 17.686 người tìm việc; 21/27 nhóm ngành ghi nhận tình trạng thiếu nguồn cung so với nhu cầu.
Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Những tháng cuối năm, nhu cầu tuyển dụng tại Hà Nội tiếp tục gia tăng ở nhiều lĩnh vực, từ xây dựng, sản xuất đến bán lẻ, dịch vụ và kinh doanh trên nền tảng số. Cùng với mở rộng cơ hội việc làm, nhiều doanh nghiệp đưa ra chính sách về thu nhập, bảo hiểm và phúc lợi để thu hút, giữ chân người lao động.
Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Hội nghị trao đổi kỹ thuật giữa Bộ Nội vụ Việt Nam và Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào tập trung chia sẻ kinh nghiệm quản lý lao động trong và ngoài nước, phát triển thị trường lao động, an toàn vệ sinh lao động và số hóa dữ liệu, qua đó cụ thể hóa các cam kết hợp tác giữa hai Bộ.
Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị hoàn thiện quy định về huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm người lao động, đặc biệt người học nghề, tập nghề và thử việc, có đủ kiến thức, kỹ năng trước khi bắt đầu công việc.
7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định 7 nhóm công việc không được phép đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc, trong đó có công việc mát-xa, săn bắt thú dữ và các công việc thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ, hóa chất độc hại. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Mật độ dân cư cao, tập trung đông trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu cùng hệ thống doanh nghiệp và dịch vụ phát triển tạo lợi thế đặc biệt cho đô thị lõi Hà Nội trong kết nối cung - cầu lao động. Vấn đề đặt ra là làm thế nào biến lợi thế về nguồn nhân lực trẻ thành những cơ hội việc làm ổn định, phù hợp chuyên môn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp.
Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Gần 300 lao động Hà Tĩnh từng làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS và thực tập sinh tại Nhật Bản theo chương trình IM Japan đã tham gia hội chợ việc làm ngày 18/9. Năm doanh nghiệp mang đến 3.800 vị trí tuyển dụng ở nhiều lĩnh vực, tạo thêm lựa chọn việc làm cho lực lượng lao động có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài khi trở về địa phương.
Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Phiên giao dịch việc làm tại bốn xã của Hà Nội ngày 19/9 dự kiến tuyển 1.276 lao động, trong đó 321 vị trí có thu nhập từ 15 triệu đồng mỗi tháng trở lên.
Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Sáng 15/9, Công ty Cổ phần Vega City ký kết hợp tác với Trường Đại học Nha Trang về phát triển du lịch, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hợp tác hướng đến tăng cường quảng bá điểm đến, mở rộng cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các dự án du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí tại Nha Trang.
Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài đã giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập ngay tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%. Những con số này được công bố tại hội thảo quốc gia về chỉ tiêu phát triển bền vững 10.7.1, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của dữ liệu trong thúc đẩy di cư lao động an toàn, hợp pháp và có trật tự.
Chính sách mới cho nghiên cứu sinh đào tạo tiến sĩ

Chính sách mới cho nghiên cứu sinh đào tạo tiến sĩ

Chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian vừa được Chính phủ quy định với cơ chế học bổng, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu và tạo điều kiện tham gia các hoạt động khoa học, đổi mới sáng tạo. Đổi lại, nghiên cứu sinh phải dành toàn bộ thời gian cho học tập, nghiên cứu và không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian tham gia chương trình.
Thanh niên Ấn Độ mắc kẹt giữa bằng cấp và việc làm

Thanh niên Ấn Độ mắc kẹt giữa bằng cấp và việc làm

Dù Ấn Độ tăng trưởng nhanh và số sinh viên tốt nghiệp đại học liên tục tăng, hàng triệu người trẻ ở nước này vẫn chật vật tìm việc phù hợp, trong khi khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động ngày càng lộ rõ.
Hoàn thiện chính sách tiền lương, thu nhập để hút nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài

Hoàn thiện chính sách tiền lương, thu nhập để hút nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài

Trong Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW, Chính phủ đặt yêu cầu rà soát, hoàn thiện chính sách tiền lương, thu nhập và giấy phép lao động, đồng thời xây dựng các ưu đãi về tài chính, thuế nhằm thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài đến Việt Nam làm việc, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Mở rộng việc làm tại chỗ, tạo sinh kế bền vững cho vùng dân tộc thiểu số

Mở rộng việc làm tại chỗ, tạo sinh kế bền vững cho vùng dân tộc thiểu số

Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang hoàn thiện Đề án tạo việc làm, phát triển dịch vụ và kết nối lao động bền vững giai đoạn 2026-2035, hướng tới khai thác lợi thế từng địa phương, nâng thu nhập và thu hẹp khoảng cách phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.