Thứ tư 12/08/2026 06:37
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

GS. Trần Thọ Đạt: Có hai kịch bản cho mục tiêu kinh tế số đạt 20% GDP

GS. Trần Thọ Đạt cho rằng, để đạt mục tiêu 20% GDP từ kinh tế số vào năm 2025, đứng trước hai kịch bản: một đầy thách thức, một hoàn toàn khả thi.
GS. Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam cần phải thận trọng
Lời tòa soạn:

Kinh tế số không còn là một khái niệm tương lai mà đã trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi, quyết định sức cạnh tranh của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Chính phủ Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng: kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025. Đây là một thách thức khổng lồ nhưng cũng là cơ hội để tạo ra bước nhảy vọt. Để hiểu rõ hơn về lộ trình, những rào cản và giải pháp đột phá, PV Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã có cuộc trao đổi với GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

Phóng viên: Thưa Giáo sư, kinh tế số được xác định là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh theo đuổi tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, mục tiêu kinh tế số đóng góp 20% vào GDP vào năm 2025 dường như là một thách thức rất lớn. Ông đánh giá thực trạng này như thế nào?

GS. Trần Thọ Đạt: Phải khẳng định rằng, kinh tế số là một động lực tăng trưởng cực kỳ quan trọng và có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ với tăng trưởng xanh. Hiện nay, kinh tế số của Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng khá trong khu vực. Tuy nhiên, khi so sánh với mục tiêu đề ra, chúng ta đang đối mặt với một thách thức vô cùng lớn.

Theo số liệu chính thức do Tổng cục Thống kê (GSO) công bố, đến năm 2024, tỷ trọng kinh tế số của Việt Nam mới đạt 13,17% GDP. Trong khi đó, mục tiêu của chúng ta cho năm 2025, tức là ngay năm nay, là 20%. Khoảng cách gần 7 điểm phần trăm trong một thời gian ngắn là một bài toán không hề đơn giản. Nếu chỉ dựa trên con số này và tốc độ tăng trưởng thông thường, việc đạt được mục tiêu 20% đòi hỏi một sự tăng trưởng vượt bậc, gấp nhiều lần so với giai đoạn vừa qua. Đây chính là thách thức lớn nhất mà chúng ta cần phải thẳng thắn nhìn nhận.

Phóng viên: Trước đó, ông từng có đề cập đến các kịch bản khác nhau để đạt được mục tiêu này. Đâu là con đường khả thi nhất và yếu tố then chốt để Việt Nam có thể về đích, thưa ông?

GS. Trần Thọ Đạt: Đúng vậy, chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề này qua hai kịch bản chính.

Kịch bản thứ nhất, như tôi vừa đề cập, là kịch bản đầy thách thức khi chúng ta dựa hoàn toàn vào con số 13,17% của GSO.

Kịch bản thứ hai mang tính khả thi cao hơn. Kịch bản này dựa trên một cách tiếp cận và đo lường khác. Theo con số ước tính của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, tỷ trọng kinh tế số của chúng ta hiện đã ở mức khoảng 18% GDP. Nếu chúng ta lấy con số này làm cơ sở, thì việc đạt được mục tiêu 20% vào cuối năm 2025 là hoàn toàn khả thi.

GS. Trần Thọ Đạt: Có hai kịch bản cho mục tiêu kinh tế số 20% GDP
GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Kinh tế Quốc dân. (Ảnh: Phan Chính)

Vậy câu hỏi mấu chốt ở đây là gì? Đó là làm thế nào để chúng ta có một phương pháp tính toán, đo lường tỷ trọng kinh tế số một cách đầy đủ, toàn diện và phản ánh đúng bản chất hơn. Các cấu phần của kinh tế số rất rộng, từ kinh tế số lõi (ICT), kinh tế số lan tỏa trong các ngành, các lĩnh vực cho đến các mô hình kinh doanh mới. Điều cốt yếu là chúng ta phải tập hợp được đầy đủ các nguồn dữ liệu, các yếu tố cấu thành để đưa ra một con số chính xác. Khi chúng ta xác định đúng giá trị hiện tại của kinh tế số, con đường đến mục tiêu 20% sẽ trở nên rõ ràng và trong tầm tay.

Phóng viên: Nhìn rộng hơn, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,52% là một con số rất ấn tượng. Theo ông, đâu là những động lực chính đã tạo nên kết quả này và liệu đà tăng trưởng này có thể duy trì đến cuối năm không?

GS. Trần Thọ Đạt: Con số 7,52% trong 6 tháng đầu năm thực sự là một sự tăng trưởng ngoạn mục, đặc biệt khi so sánh với nhiều năm qua. Nó thể hiện sự quyết liệt trong điều hành của Chính phủ và nỗ lực phi thường của cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Chúng ta đã "ngược dòng" thành công trong một bối cảnh thế giới đầy biến động, từ xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng đến những rủi ro về thuế quan.

Kết quả này tạo ra một "đòn bẩy", một động lực rất quan trọng để chúng ta hướng tới mục tiêu tăng trưởng 8% cho cả năm. Để duy trì đà tăng trưởng này từ nay đến cuối năm, chúng ta cần tiếp tục tập trung vào các động lực chính đã được xác định từ đầu năm.

Thứ nhất là quyết liệt giải ngân vốn đầu tư công, biến nguồn vốn này thành các công trình, dự án cụ thể, tạo sức lan tỏa cho nền kinh tế. Thứ hai là tiếp tục thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư, không chỉ là FDI mà cả đầu tư trong nước. Và động lực thứ ba, mang tính dài hạn hơn, chính là sự tăng trưởng dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà kinh tế số là hạt nhân.

Phóng viên: Để kinh tế số thực sự cất cánh, hạ tầng là yếu tố đi trước một bước. Tuy nhiên, dường như sự quan tâm đầu tư cho hạ tầng số chưa tương xứng với hạ tầng cứng như đường sắt, đường bộ. Theo ông, vai trò của Nhà nước trong việc đầu tư vào lĩnh vực này cần được thể hiện cụ thể ra sao?

GS. Trần Thọ Đạt: Đây là một nhận định rất chính xác. Thời gian qua, chúng ta đã rất quan tâm và có những dự án rất lớn về hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, nếu xác định kinh tế số là động lực tăng trưởng mẹ, chúng ta bắt buộc phải có những dự án đầu tư lớn, tương xứng cho cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, cả về phần cứng và phần mềm.

Vai trò của Nhà nước ở đây là đặc biệt quan trọng và có những khác biệt so với các lĩnh vực khác. Trong kinh tế số, có những nền tảng, những dữ liệu mang tính sống còn, liên quan đến an toàn, an ninh mạng và khẳng định chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đây chính là lĩnh vực mà đầu tư của Chính phủ, hay đầu tư công, phải giữ vai trò ưu tiên và chủ đạo. Chúng ta cần đầu tư vào hạ tầng mạng lõi, các trung tâm dữ liệu quốc gia để đảm bảo an toàn dữ liệu và chủ quyền số.

Bên cạnh đó, với các lĩnh vực khác của hạ tầng số, Nhà nước cần tạo điều kiện, tạo một sân chơi bình đẳng để các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam vươn lên. Chúng ta đã thấy những ví dụ thành công như FPT, CMC... họ không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà đã xuất khẩu được các sản phẩm "Make in Vietnam" ra thế giới. Tóm lại, phải có sự kết hợp hài hòa: Nhà nước tập trung đầu tư vào hạ tầng lõi chiến lược, và tạo môi trường cho doanh nghiệp tư nhân phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác.

Phóng viên: Một yếu tố không thể thiếu là nguồn nhân lực. Làm thế nào để chúng ta phát triển được nguồn nhân lực số đủ cả về lượng và chất, từ chuyên gia tinh hoa đến người lao động phổ thông, để đáp ứng cuộc cách mạng này, thưa Giáo sư?

GS. Trần Thọ Đạt: Chúng ta cần hiểu khái niệm "đào tạo nhân lực số" theo một nghĩa rộng và toàn diện. Thị trường lao động cho kinh tế số rất đa dạng và được phân khúc rõ ràng.

Ở tầng cao nhất, chúng ta cần đào tạo những chuyên gia cao cấp, những kỹ sư trình độ cao, không chỉ để làm việc trong nước mà còn đủ sức gia nhập các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Các trường đại học lớn, trong đó có Đại học Kinh tế Quốc dân, đang tập trung vào nhiệm vụ này, thu hút những sinh viên xuất sắc nhất, kể cả những em đoạt giải quốc gia, quốc tế.

Nhưng đó mới là một phần. Phần quan trọng không kém là làm sao để thu hẹp "khoảng cách số" trong xã hội. Điều này có nghĩa là chương trình đào tạo phải mang tính phổ cập, bao trùm và toàn diện. Chúng ta cần đào tạo kỹ năng số cho cả những người lao động phổ thông, cho những người dân bình thường, thậm chí cho cả những người đã về hưu để họ biết cách sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến. Tôi hay nói vui rằng chúng ta cần một cuộc "bình dân học vụ số".

Mỗi đơn vị đào tạo, từ các trường đại học hàng đầu đến các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, đều có một vị thế và ưu thế riêng trong từng phân khúc của thị trường đó. Bức tranh tổng thể phải là một hệ sinh thái đào tạo sinh động, đáp ứng được mọi nhu cầu, từ tinh hoa đến đại chúng. Chỉ khi đó, quá trình chuyển đổi số của Việt Nam mới thực sự là một quá trình chuyển mình về nhận thức của toàn xã hội, từ người dùng đến nhân lực chuyên nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn giáo sư!

Tin bài khác
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân,việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng mở ra kênh huy động vốn dài hạn, giúp Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng và tiến gần hơn tới mục tiêu bứt phá kinh tế.
AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

Từ kinh nghiệm điều hành một doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Thị Thu Hằng - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc 5S Media đề xuất mô hình ba vai trò và lộ trình năm bước giúp DNNVV biến AI từ công cụ tạo hiệu suất ngắn hạn thành năng lực vận hành có thể duy trì, nhân rộng và tạo giá trị lâu dài.
Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Trong bối cảnh nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp nhà nước được xác định không chỉ bảo đảm vai trò chủ đạo mà còn phải tiên phong đầu tư vào các lĩnh vực nền tảng, tạo lập thị trường mới và dẫn dắt đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, giá vàng giảm sâu, lãi suất tăng mạnh và khủng hoảng niềm tin khiến dòng tiền rời bỏ kim loại quý, xu hướng này còn có thể kéo dài.
Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Áp lực giảm phát thải và đáp ứng hàng rào kỹ thuật quốc tế đang đẩy hàng ngàn doanh nghiệp vào cuộc đua đổi mới công nghệ. Dù nhu cầu vốn xanh cho mục tiêu Net Zero lên tới 368 tỷ USD, nhưng rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung tiền, mà ở năng lực chứng minh hiệu quả kinh tế của chính doanh nghiệp.
Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Không ít vi phạm về an toàn thực phẩm của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh hiện nay không đến từ hành vi cố tình mà bắt nguồn từ việc thiếu thông tin và bất cập trong áp dụng quy định mới. Để gỡ rào cản này, Bộ Tư pháp đã phối hợp cùng cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng tổ chức hội nghị đối thoại trực tiếp, giúp cộng đồng kinh doanh nhận diện rủi ro và tuân thủ chuẩn mực ngay từ gốc.
Tái cấu trúc thị trường vốn để giảm lệ thuộc tín dụng, hướng tăng trưởng bền vững

Tái cấu trúc thị trường vốn để giảm lệ thuộc tín dụng, hướng tăng trưởng bền vững

Theo ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cấu trúc vốn mất cân đối khi tín dụng chiếm ưu thế lớn đang tiềm ẩn rủi ro. Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dài hạn.
Hi1 và sứ mệnh đại sứ thương hiệu đưa triệu sản phẩm Việt lên sàn số với 10.000 sinh viên Huế

Hi1 và sứ mệnh đại sứ thương hiệu đưa triệu sản phẩm Việt lên sàn số với 10.000 sinh viên Huế

Trong bối cảnh hàng triệu sản phẩm OCOP, đặc sản làng nghề và thương hiệu địa phương Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm đường lên môi trường số, một mô hình liên kết hoàn toàn mới vừa được khai sinh tại Huế, nơi mà 10.000 sinh viên thương mại điện tử và marketing sẽ không còn là những người chờ tốt nghiệp rồi đi tìm việc, mà trực tiếp trở thành lực lượng kiến tạo chuyển đổi số cho doanh nghiệp địa phương ngay từ hôm nay.
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính kỳ vọng hút 30 tỷ USD mỗi năm

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính kỳ vọng hút 30 tỷ USD mỗi năm

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân, Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng huy động 10-30 tỷ USD mỗi năm, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng.