Thứ tư 23/07/2025 01:32
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

GS. Trần Thọ Đạt: Có hai kịch bản cho mục tiêu kinh tế số đạt 20% GDP

GS. Trần Thọ Đạt cho rằng, để đạt mục tiêu 20% GDP từ kinh tế số vào năm 2025, đứng trước hai kịch bản: một đầy thách thức, một hoàn toàn khả thi.
GS. Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam cần phải thận trọng
Lời tòa soạn:

Kinh tế số không còn là một khái niệm tương lai mà đã trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi, quyết định sức cạnh tranh của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Chính phủ Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng: kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025. Đây là một thách thức khổng lồ nhưng cũng là cơ hội để tạo ra bước nhảy vọt. Để hiểu rõ hơn về lộ trình, những rào cản và giải pháp đột phá, PV Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã có cuộc trao đổi với GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

Phóng viên: Thưa Giáo sư, kinh tế số được xác định là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh theo đuổi tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, mục tiêu kinh tế số đóng góp 20% vào GDP vào năm 2025 dường như là một thách thức rất lớn. Ông đánh giá thực trạng này như thế nào?

GS. Trần Thọ Đạt: Phải khẳng định rằng, kinh tế số là một động lực tăng trưởng cực kỳ quan trọng và có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ với tăng trưởng xanh. Hiện nay, kinh tế số của Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng khá trong khu vực. Tuy nhiên, khi so sánh với mục tiêu đề ra, chúng ta đang đối mặt với một thách thức vô cùng lớn.

Theo số liệu chính thức do Tổng cục Thống kê (GSO) công bố, đến năm 2024, tỷ trọng kinh tế số của Việt Nam mới đạt 13,17% GDP. Trong khi đó, mục tiêu của chúng ta cho năm 2025, tức là ngay năm nay, là 20%. Khoảng cách gần 7 điểm phần trăm trong một thời gian ngắn là một bài toán không hề đơn giản. Nếu chỉ dựa trên con số này và tốc độ tăng trưởng thông thường, việc đạt được mục tiêu 20% đòi hỏi một sự tăng trưởng vượt bậc, gấp nhiều lần so với giai đoạn vừa qua. Đây chính là thách thức lớn nhất mà chúng ta cần phải thẳng thắn nhìn nhận.

Phóng viên: Trước đó, ông từng có đề cập đến các kịch bản khác nhau để đạt được mục tiêu này. Đâu là con đường khả thi nhất và yếu tố then chốt để Việt Nam có thể về đích, thưa ông?

GS. Trần Thọ Đạt: Đúng vậy, chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề này qua hai kịch bản chính.

Kịch bản thứ nhất, như tôi vừa đề cập, là kịch bản đầy thách thức khi chúng ta dựa hoàn toàn vào con số 13,17% của GSO.

Kịch bản thứ hai mang tính khả thi cao hơn. Kịch bản này dựa trên một cách tiếp cận và đo lường khác. Theo con số ước tính của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, tỷ trọng kinh tế số của chúng ta hiện đã ở mức khoảng 18% GDP. Nếu chúng ta lấy con số này làm cơ sở, thì việc đạt được mục tiêu 20% vào cuối năm 2025 là hoàn toàn khả thi.

GS. Trần Thọ Đạt: Có hai kịch bản cho mục tiêu kinh tế số 20% GDP
GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Kinh tế Quốc dân. (Ảnh: Phan Chính)

Vậy câu hỏi mấu chốt ở đây là gì? Đó là làm thế nào để chúng ta có một phương pháp tính toán, đo lường tỷ trọng kinh tế số một cách đầy đủ, toàn diện và phản ánh đúng bản chất hơn. Các cấu phần của kinh tế số rất rộng, từ kinh tế số lõi (ICT), kinh tế số lan tỏa trong các ngành, các lĩnh vực cho đến các mô hình kinh doanh mới. Điều cốt yếu là chúng ta phải tập hợp được đầy đủ các nguồn dữ liệu, các yếu tố cấu thành để đưa ra một con số chính xác. Khi chúng ta xác định đúng giá trị hiện tại của kinh tế số, con đường đến mục tiêu 20% sẽ trở nên rõ ràng và trong tầm tay.

Phóng viên: Nhìn rộng hơn, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,52% là một con số rất ấn tượng. Theo ông, đâu là những động lực chính đã tạo nên kết quả này và liệu đà tăng trưởng này có thể duy trì đến cuối năm không?

GS. Trần Thọ Đạt: Con số 7,52% trong 6 tháng đầu năm thực sự là một sự tăng trưởng ngoạn mục, đặc biệt khi so sánh với nhiều năm qua. Nó thể hiện sự quyết liệt trong điều hành của Chính phủ và nỗ lực phi thường của cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Chúng ta đã "ngược dòng" thành công trong một bối cảnh thế giới đầy biến động, từ xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng đến những rủi ro về thuế quan.

Kết quả này tạo ra một "đòn bẩy", một động lực rất quan trọng để chúng ta hướng tới mục tiêu tăng trưởng 8% cho cả năm. Để duy trì đà tăng trưởng này từ nay đến cuối năm, chúng ta cần tiếp tục tập trung vào các động lực chính đã được xác định từ đầu năm.

Thứ nhất là quyết liệt giải ngân vốn đầu tư công, biến nguồn vốn này thành các công trình, dự án cụ thể, tạo sức lan tỏa cho nền kinh tế. Thứ hai là tiếp tục thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư, không chỉ là FDI mà cả đầu tư trong nước. Và động lực thứ ba, mang tính dài hạn hơn, chính là sự tăng trưởng dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà kinh tế số là hạt nhân.

Phóng viên: Để kinh tế số thực sự cất cánh, hạ tầng là yếu tố đi trước một bước. Tuy nhiên, dường như sự quan tâm đầu tư cho hạ tầng số chưa tương xứng với hạ tầng cứng như đường sắt, đường bộ. Theo ông, vai trò của Nhà nước trong việc đầu tư vào lĩnh vực này cần được thể hiện cụ thể ra sao?

GS. Trần Thọ Đạt: Đây là một nhận định rất chính xác. Thời gian qua, chúng ta đã rất quan tâm và có những dự án rất lớn về hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, nếu xác định kinh tế số là động lực tăng trưởng mẹ, chúng ta bắt buộc phải có những dự án đầu tư lớn, tương xứng cho cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, cả về phần cứng và phần mềm.

Vai trò của Nhà nước ở đây là đặc biệt quan trọng và có những khác biệt so với các lĩnh vực khác. Trong kinh tế số, có những nền tảng, những dữ liệu mang tính sống còn, liên quan đến an toàn, an ninh mạng và khẳng định chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đây chính là lĩnh vực mà đầu tư của Chính phủ, hay đầu tư công, phải giữ vai trò ưu tiên và chủ đạo. Chúng ta cần đầu tư vào hạ tầng mạng lõi, các trung tâm dữ liệu quốc gia để đảm bảo an toàn dữ liệu và chủ quyền số.

Bên cạnh đó, với các lĩnh vực khác của hạ tầng số, Nhà nước cần tạo điều kiện, tạo một sân chơi bình đẳng để các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam vươn lên. Chúng ta đã thấy những ví dụ thành công như FPT, CMC... họ không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà đã xuất khẩu được các sản phẩm "Make in Vietnam" ra thế giới. Tóm lại, phải có sự kết hợp hài hòa: Nhà nước tập trung đầu tư vào hạ tầng lõi chiến lược, và tạo môi trường cho doanh nghiệp tư nhân phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác.

Phóng viên: Một yếu tố không thể thiếu là nguồn nhân lực. Làm thế nào để chúng ta phát triển được nguồn nhân lực số đủ cả về lượng và chất, từ chuyên gia tinh hoa đến người lao động phổ thông, để đáp ứng cuộc cách mạng này, thưa Giáo sư?

GS. Trần Thọ Đạt: Chúng ta cần hiểu khái niệm "đào tạo nhân lực số" theo một nghĩa rộng và toàn diện. Thị trường lao động cho kinh tế số rất đa dạng và được phân khúc rõ ràng.

Ở tầng cao nhất, chúng ta cần đào tạo những chuyên gia cao cấp, những kỹ sư trình độ cao, không chỉ để làm việc trong nước mà còn đủ sức gia nhập các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Các trường đại học lớn, trong đó có Đại học Kinh tế Quốc dân, đang tập trung vào nhiệm vụ này, thu hút những sinh viên xuất sắc nhất, kể cả những em đoạt giải quốc gia, quốc tế.

Nhưng đó mới là một phần. Phần quan trọng không kém là làm sao để thu hẹp "khoảng cách số" trong xã hội. Điều này có nghĩa là chương trình đào tạo phải mang tính phổ cập, bao trùm và toàn diện. Chúng ta cần đào tạo kỹ năng số cho cả những người lao động phổ thông, cho những người dân bình thường, thậm chí cho cả những người đã về hưu để họ biết cách sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến. Tôi hay nói vui rằng chúng ta cần một cuộc "bình dân học vụ số".

Mỗi đơn vị đào tạo, từ các trường đại học hàng đầu đến các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, đều có một vị thế và ưu thế riêng trong từng phân khúc của thị trường đó. Bức tranh tổng thể phải là một hệ sinh thái đào tạo sinh động, đáp ứng được mọi nhu cầu, từ tinh hoa đến đại chúng. Chỉ khi đó, quá trình chuyển đổi số của Việt Nam mới thực sự là một quá trình chuyển mình về nhận thức của toàn xã hội, từ người dùng đến nhân lực chuyên nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn giáo sư!

Tin bài khác
Hà Nội cấm xe máy xăng từ 2026: Người dân cần chuẩn bị gì?

Hà Nội cấm xe máy xăng từ 2026: Người dân cần chuẩn bị gì?

Hà Nội bắt đầu cấm xe máy xăng từ 1/7/2026 trong vành đai 1, hướng tới giao thông xanh. Chính sách gây nhiều tranh luận và đòi hỏi hạ tầng đồng bộ.
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Thị trường carbon là công cụ hiện thực hoá Net Zero 2050

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Thị trường carbon là công cụ hiện thực hoá Net Zero 2050

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ tiềm năng, thách thức phát triển thị trường carbon Việt Nam. Đây là công cụ then chốt hiện thực hóa Net Zero 2050, đòi hỏi khung pháp lý chặt chẽ.
TS. Lê Xuân Nghĩa: Chậm trễ bán tín chỉ carbon gây thiệt thòi bảo vệ rừng

TS. Lê Xuân Nghĩa: Chậm trễ bán tín chỉ carbon gây thiệt thòi bảo vệ rừng

Theo TS. Lê Xuân Nghĩa- Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển Tài chính Carbon, việc chậm trễ bán tín chỉ carbon gây thiệt thòi cho người dân tộc thiểu số bảo vệ rừng.
PGS. TS Ngô Trí Long: Ba "điểm nghẽn" kinh điển đang kìm hãm sự phát triển của Việt Nam

PGS. TS Ngô Trí Long: Ba "điểm nghẽn" kinh điển đang kìm hãm sự phát triển của Việt Nam

Theo PGS. TS Ngô Trí Long, để chuyển đổi số nâng cao động lực tăng trưởng đột phá, phải giải quyết “điểm nghẽn của các điểm nghẽn” là thể chế, thay đổi tư duy.
Phó Chủ tịch VATA Phan Thanh Uy: Cần lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh ngành vận tải

Phó Chủ tịch VATA Phan Thanh Uy: Cần lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh ngành vận tải

Ngành vận tải ô tô đối mặt khủng hoảng nhân lực và sức ép chuyển đổi sang năng lượng xanh. Phó Chủ tịch VATA chỉ rõ bất cập và đề xuất lộ trình chuyển đổi bền vững.
TS. Đặng Xuân Thành: Việt Nam trước nguy cơ mắc kẹt bẫy thu nhập trung bình

TS. Đặng Xuân Thành: Việt Nam trước nguy cơ mắc kẹt bẫy thu nhập trung bình

Theo TS. Đặng Xuân Thành, mặc dù đạt được nhiều thành tựu kinh tế ấn tượng, mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang bộc lộ những giới hạn, và nếu không có chiến lược đột phá, đất nước sẽ đối mặt với nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Gỡ rối pháp lý đất đai: Doanh nghiệp “vướng" đủ đường

Gỡ rối pháp lý đất đai: Doanh nghiệp “vướng" đủ đường

Hệ thống pháp luật chồng chéo đang gây tắc nghẽn hàng loạt dự án bất động sản. Luật sư, Thạc sĩ Phạm Thanh Tuấn - Đoàn Luật sư TP. Hà Nội đã kiến nghị sửa luật để gỡ vướng pháp lý đất đai cho doanh nghiệp.
Vì sao Việt Nam khó chen chân vào chuỗi chế tác vàng khu vực?

Vì sao Việt Nam khó chen chân vào chuỗi chế tác vàng khu vực?

Ngành vàng Việt Nam đối mặt rào cản pháp lý, nhưng tiềm năng vươn tầm chế tác khu vực là rất lớn. Doanh nghiệp kỳ vọng chính sách cởi mở hơn để bứt phá.
TS. Cấn Văn Lực: TP. Hồ Chí Minh là siêu đô thị "lớn nhưng còn nghèo", cần lối đi riêng

TS. Cấn Văn Lực: TP. Hồ Chí Minh là siêu đô thị "lớn nhưng còn nghèo", cần lối đi riêng

TS. Cấn Văn Lực nhận định, TP. Hồ Chí Minh là siêu đô thị “lớn nhưng còn nghèo” và cần một chiến lược đặc thù, không thể rập khuôn các mô hình như Bangkok hay Jakarta.
Tăng cường pháp chế trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Khi tuân thủ trở thành động lực phát triển

Tăng cường pháp chế trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Khi tuân thủ trở thành động lực phát triển

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật, pháp chế doanh nghiệp đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, đặc biệt đối với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật sư Nguyễn Trọng Nghĩa – Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật sư X, Chủ tịch Học viện Đào tạo Pháp chế ICA – đã chia sẻ với với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập về thực trạng và các giải pháp pháp lý dành cho cộng đồng doanh nghiệp hiện nay.
UNFPA: Việt Nam đang ở "ngã rẽ" quan trọng về dân số

UNFPA: Việt Nam đang ở "ngã rẽ" quan trọng về dân số

Chia sẻ với báo chí, ông Matt Jackson, Trưởng Đại diện của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam cho biết UNFPA sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trong việc thực hiện tinh thần của các quy định mới, hướng tới một xã hội mà trong đó “mỗi người – mỗi lựa chọn – mỗi tương lai” đều được tôn trọng, bảo vệ.
Người tiêu dùng và doanh nghiệp cần bắt tay nhau để ngăn chặn vấn nạn hàng giả

Người tiêu dùng và doanh nghiệp cần bắt tay nhau để ngăn chặn vấn nạn hàng giả

Chuyên gia về quản lý chuỗi cung ứng và logistics mách nước cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng cách đối phó hiệu quả hơn với vấn nạn hàng giả luôn khiến dư luận xã hội bức xúc trong thời gian gần đây.
Chủ tịch Hiệp hội bán lẻ Việt Nam: Cần cú hích thể chế để bứt phá

Chủ tịch Hiệp hội bán lẻ Việt Nam: Cần cú hích thể chế để bứt phá

Theo ông nguyễn Anh Đức - Chủ tịch Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, niềm tin tiêu dùng giảm, thể chế thay đổi và hậu sáp nhập tạo áp lực mới, buộc ngành bán lẻ Việt Nam phải cấu trúc.
TS. Đặng Đức Anh: Phát triển dài hạn cần phải tháo điểm nghẽn thể chế

TS. Đặng Đức Anh: Phát triển dài hạn cần phải tháo điểm nghẽn thể chế

Theo TS. Đặng Đức Anh tăng trưởng phải bền vững, ổn định vĩ mô, không đánh đổi môi trường, phải gỡ điểm nghẽn thể chế, đổi mới cơ cấu địa phương toàn diện.
Chính sách thuế mới: Hộ kinh doanh và doanh nghiệp cần lưu ý gì ?

Chính sách thuế mới: Hộ kinh doanh và doanh nghiệp cần lưu ý gì ?

Trong bối cảnh chính sách thuế mới liên tục được cập nhật, Luật sư Nguyễn Trọng Nghĩa khuyến nghị hộ kinh doanh và doanh nghiệp cần hiểu luật, minh bạch tài chính, tối ưu chi phí hợp pháp.