Thứ bảy 15/08/2026 18:54
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Giải pháp giúp doanh nghiệp quản trị khủng hoảng truyền thông trong kỷ nguyên số

Tại tọa đàm “Bảo vệ thương hiệu trong thế giới thương mại nhiều biến số”, TS. Đào Cẩm Thủy đã có chia sẻ đáng chú ý về xu hướng, rủi ro và chiến lược ứng phó khủng hoảng truyền thông trên nền tảng số.

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng bất định và cạnh tranh khốc liệt, khủng hoảng truyền thông có thể ập đến bất cứ lúc nào, khiến các thương hiệu dễ dàng lao đao nếu không có chiến lược ứng phó hiệu quả. Quản trị khủng hoảng vì thế không còn là lựa chọn, mà đã trở thành một phần thiết yếu trong chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp. Tại tọa đàm “Bảo vệ thương hiệu trong thế giới thương mại nhiều biến số”, TS. Đào Cẩm Thủy - Phó chủ nhiệm Viện Quản trị Kinh doanh, trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội - đã có những chia sẻ đáng chú ý về xu hướng, rủi ro và chiến lược quản trị khủng hoảng truyền thông trong kỷ nguyên số.

76% cuộc khủng hoảng loại bỏ được nếu doanh nghiệp có hệ thống theo dõi

Theo báo cáo của Global Market Insights (2023), thị trường dịch vụ quản trị khủng hoảng truyền thông trên mạng xã hội năm 2023 đã đạt quy mô 1,88 tỷ đô la Mỹ, và dự báo sẽ chạm mốc 10,2 tỷ USD vào năm 2032, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 21%.

Giải pháp giúp doanh nghiệp quản trị khủng hoảng truyền thông trong kỷ nguyên số
TS. Đào Cẩm Thủy – Phó chủ nhiệm Viện Quản trị Kinh doanh, trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội

"Với quy mô như vậy, doanh nghiệp cần đầu tư nghiêm túc vào quản trị rủi ro và phòng ngừa khủng hoảng trên mạng xã hội, không chỉ ở quy mô lớn mà cả trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây cũng là cơ hội lớn cho các công ty truyền thông, công nghệ và tư vấn nếu biết cung cấp các dịch vụ hiệu quả, chuyên sâu và thích ứng nhanh", TS. Đào Cẩm Thủy chia sẻ.

Phần lớn khủng hoảng mạng xã hội không xuất phát từ các yếu tố ngẫu nhiên hay tin đồn thất thiệt. Theo TS. Nguyễn Cẩm Thủy thông tin, trích từ dữ liệu từ Business Insider cho thấy, nguyên nhân phổ biến nhất là trải nghiệm khách hàng tệ , điều này cho thấy bất kỳ sơ suất nào trong khâu chăm sóc khách hàng đều có thể bị mạng xã hội “khuếch đại” thành khủng hoảng nghiêm trọng. Tiếp theo là vấn đề về KOL/Influencer. Vi phạm chuẩn mực đạo đức) cũng là nguyên nhân đáng chú ý – cho thấy những hành vi lệch chuẩn không chỉ bị cộng đồng mạng phản đối mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu.

Các nguyên nhân khác gồm: Nhân viên bất mãn (rogue employees), nội dung phản cảm, hành vi giả mạo người dùng (astroturfing), kiểm duyệt cộng đồng, tấn công từ tổ chức phi chính phủ (NGO), không kiểm chứng sự thật, phản hồi chậm và phát ngôn không phù hợp.

Phân tích thị phần dịch vụ quản trị khủng hoảng theo ngành nghề (2023) cho thấy, trên thế giới các lĩnh vực tiếp xúc nhiều với công chúng và dư luận là những nhóm chịu ảnh hưởng mạnh nhất. "Khu vực công và chính phủ chiếm tỷ trọng cao nhất - lên đến 31,4%. Đây là nhóm phải chịu áp lực truyền thông liên tục, nơi mọi sai sót có thể dẫn tới hậu quả chính trị và xã hội lớn. Các ngành còn lại cũng thuộc nhóm “nhạy cảm cao” về thông tin gồm:Tài chính – ngân hàng, y tế, bán lẻ – thương mại điện tử, truyền thông – giải trí, du lịch – khách sạn", TS. Đào Cẩm Thủy thông tin.

Một trong những hiểu lầm lớn nhất về khủng hoảng truyền thông là nghĩ rằng chúng đến bất ngờ, không thể kiểm soát. Tuy nhiên, bà Thủy cho rằng, theo thống kê từ các nghiên cứu chuyên sâu, tới 76% các cuộc khủng hoảng có thể được cảnh báo trước hoặc loại bỏ hoàn toàn nếu doanh nghiệp có hệ thống theo dõi và xử lý phù hợp. Chỉ có 24% trường hợp là thực sự không thể tránh khỏi.

Con số này là lời cảnh tỉnh cho nhiều tổ chức vẫn đang lơ là trong việc đầu tư cho giám sát thương hiệu theo thời gian thực, quy trình ứng phó sớm, và đào tạo đội ngũ truyền thông.

Tại Việt Nam, không phải ngành nghề nào cũng chịu mức độ rủi ro truyền thông như nhau. TS. Đào Cẩm Thủy đã chỉ ra danh sách 10 ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi khủng hoảng trên mạng xã hội, dựa trên tổng lượng thảo luận tiêu cực và số sự việc phát sinh.

Ngành ngân hàng đứng đầu danh sách, cho thấy mức độ nhạy cảm đặc biệt của người dùng khi liên quan đến các vấn đề tài chính. Tiếp theo là giáo dục và thực phẩm – hai lĩnh vực dễ bị tác động bởi các sự cố liên quan đến chất lượng, đạo đức và an toàn. Dịch vụ sức khỏe cũng được đánh giá là có mức độ rủi ro cực cao, bởi chỉ một sơ suất nhỏ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Bất động sản thường vướng vào khủng hoảng do các vấn đề về tiến độ bàn giao, chất lượng công trình hoặc pháp lý dự án. Ngành bảo hiểm cũng không nằm ngoài vòng xoáy khi niềm tin người tiêu dùng dễ lung lay bởi các cam kết chi trả không rõ ràng hoặc điều khoản mập mờ.

Ngoài ra, các lĩnh vực như bán lẻ, kinh doanh đa ngành, hàng không và dịch vụ ăn uống cũng lần lượt góp mặt trong danh sách những ngành có nguy cơ cao đối mặt với khủng hoảng truyền thông trên mạng xã hội.

Mạng xã hội - "Kẻ khuếch đại" khủng hoảng

Mạng xã hội đang là tác nhân mạnh mẽ nhất khuếch đại khủng hoảng thương hiệu, dù là tiêu cực hay tích cực. Chỉ một sai sót nhỏ, nếu lan truyền trên mạng xã hội, có thể gây thiệt hại nặng nề cho hình ảnh và doanh thu doanh nghiệp. TS. Đào Cẩm Thủy dẫn câu chuyện về hai trường hợp gần đây của Katinat và Vịt sấy Dẻo 34 là minh chứng rõ nét cho mặt trái và cơ hội mà mạng xã hội mang lại.

Chuỗi cà phê Katinat từng công bố chương trình trích ra 1.000 đồng trên mỗi ly nước bán ra tại hệ thống trong giai đoạn khó khăn vì bão lũ tại các tỉnh miền Bắc. Tuy nhiên, thông điệp lại gây phản tác dụng khi cộng đồng mạng nhận ra rằng việc là trích 1.000 đồng từ mỗi ly nước bán ra dường như quá nhỏ so với mức giá trung bình 60.000-70.000 đồng/ly.

Giải pháp giúp doanh nghiệp quản trị khủng hoảng truyền thông trong kỷ nguyên số
Cộng đồng mạng tranh cãi với cách KATINAT trích 1.000 VNĐ/1 ly nước

Phản ứng dữ dội nhanh chóng lan rộng, nhiều người cho rằng đây là chiêu trò lợi dụng từ thiện để quảng cáo và kích cầu bán hàng. Bài đăng thu về lượng tương tác tiêu cực lớn, khiến thương hiệu mất điểm nghiêm trọng. Ngay sau đó, thương hiệu đã lên tiếng xin lỗi, thay đổi cách làm bằng cách chuyển thẳng 1 tỷ đồng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ban Cứu trợ Trung ương và cam kết rút kinh nghiệm trong các hoạt động thiện nguyện.

Sự thay đổi cách tiếp cận này phần nào giúp xoa dịu dư luận và khôi phục lại phần nào niềm tin từ phía khách hàng. Trường hợp của Katinat cho thấy một bài học rõ ràng, dù mục tiêu ban đầu có tốt đến đâu, nếu cách truyền thông thiếu tinh tế, thiếu minh bạch thì vẫn dễ dàng dẫn đến khủng hoảng và làn sóng chỉ trích nặng nề.

Trường hợp khác là vịt sấy Dẻo 34 - một thương hiệu đặc sản vốn được yêu thích, bất ngờ rơi vào khủng hoảng khi trên mạng xuất hiện đoạn video lan truyền với tiêu đề gây sốc: “Nghi án vịt sấy Dẻo 34 nhập Trung Quốc, đóng mác Việt Nam?”. Dù thông tin chưa được kiểm chứng nhưng chỉ riêng tiêu đề đã khiến cộng đồng mạng hoang mang. Những động thái sau đó từ thương hiệu như như video bị xóa, sản phẩm bị gỡ khỏi giỏ hàng trên các sàn thương mại điện tử càng khiến người tiêu dùng thêm nghi ngờ. Sự im lặng của thương hiệu trong những giờ đầu càng đẩy tình hình trở nên nghiêm trọng. Một nghi vấn chưa được làm rõ, nhưng dưới tác động của mạng xã hội, nhanh chóng bị thổi bùng thành khủng hoảng. Không kịp thời phản hồi, thương hiệu rơi vào thế bị động, mất quyền kiểm soát câu chuyện và đánh mất niềm tin từ người tiêu dùng.

Trong thời đại mạng xã hội, một thương hiệu có thể bị “đánh sập” chỉ sau một đêm bởi một sự cố tưởng chừng nhỏ nhặt. Nhưng ngược lại, nếu xử lý khôn ngoan, mạng xã hội cũng có thể trở thành đòn bẩy phục hồi niềm tin mạnh mẽ nhất. Muốn tránh tổn thất lớn, TS. Đào Cẩm Thủy cho rằng, thương hiệu phải đầu tư vào một hệ thống quản trị khủng hoảng bài bản.

Cụ thể, cần thực hiện các bước sau: Thứ nhất, thiết lập quy trình phản ứng rõ ràng, đảm bảo mọi phòng ban đều biết vai trò và bước hành động khi khủng hoảng xảy ra. Thứ hai, tập huấn người phát ngôn và đội xử lý, giúp họ bình tĩnh, khéo léo và kịp thời lên tiếng khi cần. Thứ ba, sử dụng công cụ giám sát mạng xã hội theo thời gian thực, để phát hiện tín hiệu bất thường từ sớm. Cuối cùng, lên kịch bản tình huống (scenario planning), mô phỏng các loại rủi ro khác nhau để có phương án ứng phó nhanh gọn, đúng trọng tâm.

Tin bài khác
Cao tốc Bắc - Nam từ Quảng Ngãi - Nha Trang chính thức thu phí

Cao tốc Bắc - Nam từ Quảng Ngãi - Nha Trang chính thức thu phí

Năm đoạn cao tốc Quảng Ngãi - Nha Trang bắt đầu thu phí ETC, giúp phương tiện lưu thông liền mạch nhưng yêu cầu tài xế chủ động kiểm tra tài khoản trước hành trình.
Tháng cao điểm chống IUU: Tập trung gỡ “thẻ vàng” EC bằng kết quả thực chất

Tháng cao điểm chống IUU: Tập trung gỡ “thẻ vàng” EC bằng kết quả thực chất

Gỡ “thẻ vàng” EC là mục tiêu trọng tâm của tháng cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), được triển khai trên toàn quốc từ ngày 15/8 đến 15/9/2026, nhằm xử lý dứt điểm các tồn tại, điểm nghẽn và thực hiện thực chất các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu.
Hà Nội xác định 9 nhóm công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2035

Hà Nội xác định 9 nhóm công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2035

Hà Nội vừa ban hành danh mục 9 nhóm công nghệ và 25 sản phẩm chiến lược ưu tiên phát triển giai đoạn 2026-2035, tập trung vào trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, robot, công nghệ sinh học, năng lượng mới, đường sắt đô thị và không gian tầm thấp.
Đấu thầu cần “thoáng” thủ tục nhưng chặt cơ chế kiểm soát

Đấu thầu cần “thoáng” thủ tục nhưng chặt cơ chế kiểm soát

Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) đang được xây dựng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh đấu thầu qua mạng và tăng phân cấp. Tuy nhiên, các ý kiến thẩm định cho rằng việc tinh gọn phải đi cùng cơ chế giám sát đủ chặt để phòng ngừa vi phạm, bảo đảm cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
Đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế thu hồi phần đất còn lại khi đạt 75%

Đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế thu hồi phần đất còn lại khi đạt 75%

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Cao Sơn cho rằng sửa Luật Đất đai cần tạo cơ chế tiếp cận đất đai rõ ràng, có thể dự đoán cho nhà đầu tư; trong đó, khi dự án đạt thỏa thuận từ 75% diện tích và 75% số người sử dụng đất, cần có cơ chế xử lý phần diện tích còn lại để tránh kéo dài quá trình giải phóng mặt bằng.
Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá

Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá

Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông nguồn lực sáng tạo, thúc đẩy thị trường và nâng cao giá trị kinh tế của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Dự kiến huy động hơn 808.000 tỷ đồng

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Dự kiến huy động hơn 808.000 tỷ đồng

Chính phủ đề xuất tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình chung giai đoạn 2026-2030, với tổng nguồn lực dự kiến 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương khoảng 345.000 tỷ đồng.
TP. HCM sửa đổi thủ tục công bố dự án đầu tư kinh doanh

TP. HCM sửa đổi thủ tục công bố dự án đầu tư kinh doanh

Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tài chính. Quyết định công bố 1 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nhập siêu 20,3 tỷ USD đặt doanh nghiệp trước bài toán nội địa hóa

Nhập siêu 20,3 tỷ USD đặt doanh nghiệp trước bài toán nội địa hóa

Nhập khẩu tăng mạnh trong 7 tháng đầu năm đang tạo sức ép lên cán cân thương mại, nhưng phần lớn dòng hàng là máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Bài toán đặt ra với doanh nghiệp là nâng tỷ lệ nội địa hóa để biến áp lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất dài hạn.
Đến năm 2030, toàn bộ cao tốc Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng giao thông thông minh

Đến năm 2030, toàn bộ cao tốc Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng giao thông thông minh

Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đến năm 2030 kết nối toàn bộ cao tốc đang khai thác vào ITS Core, tạo mạng lưới giao thông số thống nhất, điều hành bằng dữ liệu thời gian thực.
TP.HCM cấp thẻ đi xe buýt miễn phí, tiến tới đi xe buýt bằng căn cước hoặc  VNeID

TP.HCM cấp thẻ đi xe buýt miễn phí, tiến tới đi xe buýt bằng căn cước hoặc VNeID

TP.HCM đang đẩy mạnh số hóa hệ thống giao thông công cộng, đồng thời triển khai chính sách đi xe buýt miễn phí cho toàn bộ người dân đi lại trên 134 tuyến xe buýt nội tỉnh và miễn phí hoàn toàn cho các nhóm đối tượng theo quy định. Người dân có thể đăng ký thẻ miễn phí, sử dụng trên xe buýt và từng bước kết nối với metro, hướng tới việc đi lại thuận tiện hơn và giảm sử dụng phương tiện cá nhân.
VINASME và hành trình kiến tạo thể chế cho kinh tế tư nhân

VINASME và hành trình kiến tạo thể chế cho kinh tế tư nhân

Nếu ví kinh tế tư nhân là động cơ tăng trưởng mới của Việt Nam thì VINASME chính là một trong những tổ chức đang góp phần thiết kế và hoàn thiện "đường băng" để động cơ ấy cất cánh.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, xác định đây không chỉ là nhiệm vụ về tiến độ ngân sách mà còn là giải pháp quan trọng để mở rộng không gian phát triển, tạo hạ tầng và mặt bằng, qua đó kích hoạt dòng vốn đầu tư tư nhân và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026.
Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Điểm doanh nghiệp cần chú ý trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật nằm ở việc giảm thủ tục, tăng phân quyền và tạo thêm hành lang cho kinh tế số, chuyển giao công nghệ và hạ tầng viễn thông.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành chuyển từ việc trả lời kiến nghị sang xử lý đến cùng, xác định rõ đầu mối, thời hạn và giải pháp để doanh nghiệp thực sự tháo gỡ được khó khăn.