Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay mua bán khởi sắc hơn hôm qua, giá gạo các loại ít biến động.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 22/1/2026: Giá lúa gạo tiếp tục khởi sắc, thị trường giữ nhịp ổn định |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán khởi sắc hơn hôm qua, giá gạo các loại ít biến động. Tại Tân Hiệp, Giồng Riềng (An Giang) giao dịch mua bán gạo trắng chậm, các kho mua vào ít, giá gạo các loại bình ổn.
Tại An Giang, giao dịch mua bán khá hơn, gạo nguyên liệu trắng và gạo các loại khác ít biến động. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về ít, giao dịch mua bán ít, gạo các loại vững giá. Tại An Cư - Đồng Tháp, các kho mua chậm, lựa gạo, gạo các loại tương đối ổn định.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng nhẹ ngày thứ ba liên tiếp. Cụ thể, gạo nguyên liệu OM 380 tăng thêm 50 đồng/kg, lên mức 7.600 – 7.700 đồng/kg. Tuy nhiên, gạo nguyên liệu OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; gạo CL 555 hiện ở mức 7.600 – 7.800 đồng/kg; Đài Thơm 8 hiện ở mức 8.600 – 8.750 đồng/kg; gạo IR 504 ở mức 7.650 – 7.750 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 18 hiện ở mức 8.400 - 8.600 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 22/1/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại ổn định. Cụ thể, gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 22/1/2026 |
Phân khúc nếp tiếp tục đi ngang. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 22/1/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm vững đà tăng so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm ấm IR 504 tăng 100 đồng/kg, lên 7.850 – 8.000 đồng/kg; giá cám tiếp tục tăng thêm 100 đồng/kg, đạt 8.050 – 8.250 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch mua bán vẫn chậm, giá lúa tươi các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, lúa Đông Xuân chào bán rải rác, giao dịch chậm, giá lúa thơm xu hướng chào giá tăng nhẹ.
Tại Cà Mau, lúa thơm vững giá, ST giảm nhẹ, giao dịch chậm. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh giao dịch mua bán lúa Đông Xuân chậm, giá tương đối ổn định.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không biến động so với ngày hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 18 (tươi) và Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; OM 5451 (tươi) trong khoảng 5.600 - 5.800 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; lúa giá lúa tươi OM 4218 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 22/1/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo đ ingang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam tiếp tục được giao dịch ở mức 442 - 446 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm đạt 410 - 430 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm giữ ở mức 362 - 366 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo gạo trắng 5% tấm vẫn đang được giao dịch ở mức 400 - 404 USD/tấn, cao nhất trong số các quốc gia xuất khẩu hàng đầu. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% của Ấn Độ duy trì trong khoảng 352 - 356 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm đạt 356 - 360 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm được giao dịch ở mức ở mức 359 - 363 USD/tấn.
Theo Platts (S&P Global Energy), kế hoạch nhập khẩu khoảng 300.000 tấn gạo của Philippines trong tháng 2 được kỳ vọng giúp thị trường giao dịch sôi động hơn, song khó tạo cú hích về giá. Nguồn cung cho lô hàng này nhiều khả năng đến từ vụ Đông Xuân của Việt Nam, nhưng do không áp dụng hạn ngạch theo xuất xứ, gạo từ Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Campuchia hay Pakistan vẫn có thể tham gia nếu cạnh tranh về giá và đáp ứng quy định.
Động thái mở cửa nhập khẩu diễn ra trong bối cảnh Manila siết quản lý gạo năm 2026 nhằm bảo vệ nông dân trong nước. Philippines dự kiến giảm nhập khẩu xuống dưới 4 triệu tấn nhờ sản lượng nội địa đạt mức cao kỷ lục, đồng thời duy trì cơ chế tạm ngừng nhập khẩu kéo dài đến tháng 4/2026, chỉ mở “khung hạn chế” để tránh gây áp lực giá vào đầu vụ thu hoạch.
Thực tế thị trường cho thấy, dù bỏ hạn chế theo nguồn gốc trong tháng 2, trần khối lượng 300.000 tấn vẫn là rào cản lớn. Người mua đánh giá con số này tương đối nhỏ, làm giảm tính linh hoạt và khó tạo lực kéo giá. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 3,2 triệu tấn gạo sang Philippines, giảm 24% so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu đã hạ nhiệt.
Giá gạo Việt Nam vì vậy duy trì ổn định: gạo thơm 5% tấm ở mức 414 USD/tấn FOB và gạo trắng 5% tấm 354 USD/tấn, đều giảm so với tháng trước. Trong bối cảnh nguồn cung Đông Xuân sắp ra thị trường và tồn kho còn dồi dào, tác động từ nhập khẩu tháng 2 được dự báo chỉ mang tính “kích hoạt giao dịch”, khó đẩy giá tăng đáng kể trong ngắn hạn.